33 số báo Quân đội nhân dân xuất bản tại Mặt trận Điện Biên Phủ: Những bài học nghiệp vụ quý giá từ một tòa soạn tiền phương
Tôi đã đọc 33 số báo Quân đội nhân dân (QĐND) xuất bản tại Mặt trận Điện Biên Phủ. Có thể nói, trên cả 4 tiêu chí cốt lõi là tổ chức hoạt động quản trị tòa soạn; nội dung phản ánh; nghiệp vụ, đội ngũ và ảnh hưởng xã hội, 33 số báo đã để lại nhiều bài học đắt giá, không có trong trường lớp báo chí.
Đã có nhiều bài viết của các nhà báo, nhà văn lão thành (Phan Quang, Nguyễn Đình Thi, Thái Duy...), các nhà báo là nhân chứng lịch sử của Báo QĐND tại mặt trận (Hoàng Xuân Tùy, Phạm Phú Bằng, Nguyễn Khắc Tiếp, Trần Cư...), các lãnh đạo Báo QĐND (Lê Phúc Nguyên, Phạm Văn Huấn), các đồng nghiệp trong và ngoài Báo... Đó là những bài viết ở các góc độ tiếp cận khác nhau, những kỷ niệm sâu sắc. Tôi nghĩ, cần có những nghiên cứu sâu, đánh giá khoa học về các số báo này như một bảo vật, một di sản văn hóa trong lĩnh vực báo chí.
Thứ nhất, bài học về tổ chức hoạt động tòa soạn trong thời chiến.
Trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến đang bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, việc tổ chức một tòa soạn tiền phương ở trong rừng Mường Phăng là sáng kiến độc đáo, một quyết định sáng suốt, một mô hình tổ chức tòa soạn báo linh hoạt, sáng tạo, chưa có tiền lệ trên thế giới và ở Việt Nam trong thời điểm lịch sử ấy. Trước đó, các chiến dịch chỉ có phóng viên báo chí đi cùng. Vậy nhưng, ở tòa soạn tiền phương này, phóng viên tác nghiệp tại mặt trận phải làm việc, rèn luyện và sẵn sàng chiến đấu như một người lính, vừa cầm súng, vừa cầm bút, phải luôn nhanh nhạy, sáng tạo và đòi hỏi cả sự dũng cảm. Để có được một mẩu tin, bài phóng sự, phóng viên phải xoay xở tất cả; lo bám các đơn vị, địa bàn... Nơi sản xuất báo nằm ngay gần chiến hào, để báo in xong là có thể đưa ngay đến các trung đội, cho bộ đội được đọc ngay. Chịu những thử thách khắc nghiệt của chiến trường, nhà báo còn phải lăn lộn, thâm nhập cuộc sống của bộ đội, dân công, thanh niên xung phong và của nhân dân để có được không khí chiến trường, có tài liệu, cảm xúc, viết được những bài báo có sức động viên, cổ vũ và thôi thúc các lực lượng trên mặt trận hăng hái và tin tưởng chiến đấu. Đặt tòa soạn tại mặt trận là đưa cơ quan báo chí, đưa người làm báo đến sản xuất báo ngay tại hiện trường, đến ngay đầu nguồn tin tức chiến sự, theo sát diễn biến của mặt trận từng nơi, từng lúc để phản ánh kịp thời nhất. Tòa soạn tại mặt trận, làm báo, in báo tại chiến trường, phát hành báo ngay trên trận địa, tới tận tay bộ đội. Chỉ có một đội ngũ người làm báo với kỷ luật thép, tinh thần hy sinh và ý chí sắt đá cùng tình yêu nghề, yêu bộ đội vô bờ bến mới có thể làm được. Đúng như nhận định của Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị: “Báo QĐND đã cùng với các đại đoàn chủ lực xuất trận, cùng với chúng tôi chiến đấu trong chiến dịch này” (bài “Đọc báo QĐND xuất bản tại Mặt trận Điện Biên Phủ” trong "Tòa soạn tiền phương trong rừng Mường Phăng", Nhà xuất bản QĐND, năm 2014).
Thứ hai, bài học về tổ chức nội dung từng số báo tại mặt trận.
Tôi rất thích câu nói của nhà báo Trần Cư về làm báo ở chiến trường: “Nhịp thở của báo do nhịp thở của chiến trường quy định” (hồi ký của nhà báo Trần Cư trong “Thời gian và nhân chứng”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, năm 2023). Từ định kỳ ra báo đến nội dung từng số báo đều theo yêu cầu chỉ đạo của cấp trên và theo sát diễn biến của tình hình mặt trận. Khoảng cách ra báo lúc đầu là 4-5 ngày, đến số 11 ra đầu tháng 3-1954, khoảng cách rút xuống 3 ngày, rồi 2 ngày. Đặc biệt, ngày 9-3-1954 báo vừa ra thì ngày 10-3-1954, cấp trên lại lệnh ra ngay một số nữa, số ngày 10-3-1954 đăng toàn văn lời kêu gọi của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp gửi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, nêu rõ “Trận Điện Biên Phủ sắp bắt đầu” và lệnh “Kiên quyết tiêu diệt toàn bộ quân địch tại Điện Biên Phủ”. Hai số báo liền nhau ấy là để chuẩn bị tư tưởng, cổ vũ tinh thần và quyết tâm cho bộ đội trước trận mở màn Him Lam ngày 13-3-1954. Ngay sau trận mở màn Him Lam thắng lợi (đêm 13-3), số báo ra sáng 14-3-1954 đã đưa tin chiến thắng với dòng tít lớn trên trang nhất “Quân ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Him Lam” và đến tay bộ đội ngay tại mặt trận. Như thế để thấy sự nhanh nhạy, đúng và trúng trong cách tổ chức nội dung từng số báo.

Giảng viên Khoa Viết văn - Báo chí, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tìm hiểu 33 số báo Quân đội nhân dân xuất bản tại Mặt trận Điện Biên Phủ. Ảnh: ĐAN LÊ
Nội dung các số báo luôn bám sát diễn biến của mặt trận. Trong 15 số đầu, khi chưa bắt đầu Chiến dịch Điện Biên Phủ, bài phản ánh là chủ yếu, phạm vi rộng hơn. Gần đến chiến dịch, trong chiến dịch và sau chiến dịch, cho đến số cuối cùng ngày 16-5-1954, là những nội dung luôn bám sát với thực tiễn sôi động của chiến trường.
Về ý nghĩa nghiệp vụ cho thấy, báo chí trong bối cảnh chiến tranh không chỉ thực hiện chức năng thông tin mà còn đóng vai trò tích cực trong việc định hình nhận thức, củng cố niềm tin và thúc đẩy hành động xã hội. Đọc 33 số báo, thấy rõ các thông điệp truyền thông từ nội dung các bài viết, từ các số báo được thiết kế nhằm nâng cao tinh thần chiến đấu, củng cố niềm tin và thúc đẩy hành động của bộ đội, của nhân dân. Thông qua việc lựa chọn thông tin và phản ánh sinh động hành động chiến đấu của người chiến sĩ tại chiến trường, 33 số báo góp phần tạo ra các diễn ngôn xã hội, có khả năng thúc đẩy hành động tập thể, cá nhân, thông qua các khung diễn giải như “anh hùng”, “hy sinh”, “chiến thắng” được sử dụng để định hướng cảm xúc, quyết tâm và hành động anh hùng của bộ đội, dân công, thanh niên xung phong, của nhân dân.
Thứ ba, bài học về cách viết và các kỹ năng làm báo.
33 số báo cho thấy tính chuyên nghiệp, tính nhạy bén nghiệp vụ: Nội dung phong phú, thiết thực, tính thời sự cao, bám sát nhiệm vụ ở chiến trường, đặc biệt là phản ánh kịp thời các đợt tiến công của chiến dịch, các trận đánh lớn; phong phú chuyên mục và đa dạng thể loại báo chí, sinh động, ngắn gọn, hấp dẫn trong cách viết, cách trình bày báo.
Trung tướng Phạm Hồng Cư đánh giá, Báo QĐND xuất bản tại mặt trận là một công cụ công tác chính trị đắc lực trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Báo cung cấp thông tin kịp thời về diễn biến của chiến dịch cũng như của các chiến trường phối hợp trên toàn quốc và tin tức hậu phương. Báo là nguồn cung cấp tài liệu giáo dục nhiệm vụ tại mặt trận. Báo đi đầu trong tác dụng nêu gương thông qua những tấm gương chiến đấu liên tục xuất hiện trên mặt báo. Tác dụng thứ tư là báo góp phần vào sinh hoạt văn hóa của bộ đội trong hoàn cảnh chiến đấu liên tục, ác liệt.
Nội dung của báo cũng như cách viết phù hợp với độc giả tại mặt trận chủ yếu là bộ đội, dân công, thanh niên xung phong. Cùng với tin tức phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, tin chiến sự, thường có tin, bài về hậu phương, tin quốc tế. Chuyên mục khá phong phú và bài viết phù hợp tính chất chuyên mục: Ngắn gọn, góp phần xây dựng tư tưởng, củng cố quyết tâm. Chuyên mục thơ ca, hò, vè, thơ châm của các tác giả: Lê Kim, Phác Văn, Tạ Hữu Thiện, có cả thơ hậu phương gửi ra mặt trận. Chuyên mục tùy bút, bút ký có nhiều bài hay như: “Hoa Găng vẫn đỏ” của Chiến Kỳ, “Chiến sĩ chống bom nổ chậm” của Trần Cư, “Đêm nay Bác không ngủ” của Phú Bằng-Trần Cư. Biếm họa của họa sĩ Nguyễn Bích, Mai Văn Hiến hài hước, châm biếm sâu cay, mang lại tiếng cười sảng khoái, xua tan mệt mỏi. Một số bài, tranh mô tả cuộc sống bi hài của lính Tây ở Điện Biên Phủ.
Trong cách viết, bài thường ngắn, nhiều bài phản ánh thường có tít dẫn, tít chính, tít phụ, sa pô, tít xen trong bài. Nghiệp vụ rút tít của Báo mang đậm phong cách ngôn ngữ thông báo và ngôn ngữ bình dân. Phần nhiều theo cấu trúc câu ta-địch, biểu thị sự tương phản thắng-thua; tít thông báo nhiều thành phần dẫn-chính-phụ-xen để gói nhiều thông điệp, nhiều lớp thông tin của chiến trường. Đưa tin thắng trận, báo thường dùng nhiều tít chứa con số, gây ấn tượng và thu hút người đọc: “Ta đã tiêu diệt 5.000 quân địch, hạ 50 máy bay, phá hủy 7 kho đạn và ét-xăng, 5 xe tăng”. Tít dùng phó từ nhấn mạnh sự lặp lại, sự tiếp nối chiến thắng: “Quân ta lại tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn Bắc Phi ở đồi Độc Lập” (số báo 132).
Tít bài bút ký, ghi chép thường sinh động, gần gũi như lời ăn tiếng nói của bộ đội, nhân dân, giàu cảm xúc: “Ở Mường Thanh, địch ra hàng như nước chảy” (Trần Cư, số báo 148), “Đêm nay Bác không ngủ” (Trần Cư-Phú Bằng, số báo 136). Tít của bài chính luận, sinh hoạt tư tưởng cũng nhẹ nhàng, dễ hiểu: “Trong khi chiến đấu, lãnh đạo chính trị thế nào?” (Trần, số báo 136); “Kịp thời giải quyết tư tưởng sau mỗi trận đánh” (Thế Dũng, số báo 135); “Chuyện rau, thịt ở đơn vị” (số báo 127)...
Tít bài nêu gương: “Đồng chí Vương với 1 súng trường đã bắn chết 15 địch” (số báo 134), “Chiến sĩ chống bom nổ chậm”, “Hai em nhỏ và 30 cân gạo” (số báo 120); “Ra sức trông nom sức khỏe ăn ngủ cho bộ đội” (Lê Liêm, số báo 123); “Một tấm gương chiến đấu vĩ đại vì nhân dân, vì Tổ quốc-đồng chí Hoàng Văn Nô-người dũng sĩ đâm lê” (số báo 123)...
Đặc biệt, nhiều tin, bài đã sử dụng hình thức thông tin đồ họa. Trên số báo 116 ra ngày 28-12-1953 (số 1 xuất bản tại mặt trận), chiếm gần nửa trang nhất là “Sơ đồ diễn biến cuộc truy kích của ta và cuộc rút lui của địch” trong bài “Diễn biến cuộc rút lui Lai Châu về Điện Biên của địch và cuộc truy kích của quân ta”; số báo 120 có “Hình thái chiến sự trên chiến trường Việt Miên Lào Đông Xuân 53-54”; “Sơ đồ chiến thắng Đông Xuân trên chiến trường Việt Miên Lào” (số báo 123). Trong 33 số báo, có 14 số sử dụng hình thức thông tin đồ họa.
Thời đại 4.0, công nghệ làm báo hiện đại đã giảm bớt sức lao động cho nhà báo và quy trình làm báo, nhiều công đoạn làm báo đã và sẽ được trí tuệ nhân tạo (AI), robot thay thế, nhưng dấu ấn sáng tạo cá nhân, tính độc đáo trong cách tổ chức làm báo, trong nghiệp vụ viết báo, AI khó thay thế được. Trong ý nghĩa ấy, việc bảo tồn và phát huy giá trị tinh thần, những bài học nghiệp vụ từ 33 số báo QĐND xuất bản tại Mặt trận Điện Biên Phủ là việc nên và cần làm vì sự phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam.











