6 cơ chế mới tháo gỡ vướng mắc trong đầu tư, mua sắm cho chuyển đổi số
Việc dành tối thiểu 1% chi ngân sách nhà nước cho chuyển đổi số cùng các cơ chế đặc thù về đầu tư, mua sắm và thử nghiệm công nghệ được xem là bước thay đổi quan trọng trong chính sách phát triển chuyển đổi số quốc gia, góp phần đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án số quy mô lớn từ Trung ương đến địa phương.

Ông Lê Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) - Ảnh: VGP/Thu Giang
Nghị định số 224/2026/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 24/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số đã bổ sung nhiều cơ chế mới nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong đầu tư, mua sắm và triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số sử dụng ngân sách nhà nước.
Các quy định mới được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý thông thoáng hơn, thúc đẩy triển khai các nền tảng số, cơ sở dữ liệu quốc gia và các hệ thống phần mềm phục vụ chuyển đổi số.
Theo ông Lê Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN), Nghị định 224 có 6 điểm mới nổi bật, tập trung giải quyết những "điểm nghẽn" về cơ chế, thủ tục và trách nhiệm trong quá trình triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số.
Dành tối thiểu 1% chi ngân sách nhà nước cho chuyển đổi số
Theo ông Lê Anh Tuấn, điểm mới đầu tiên là chuyển đổi số lần đầu tiên được xác lập thành một lĩnh vực chi ngân sách độc lập.
Trước đây, kinh phí cho chuyển đổi số được lồng ghép trong các lĩnh vực, ngành khác nhau nên chưa có cơ chế bố trí nguồn lực riêng. Với Luật Ngân sách nhà nước và Luật Chuyển đổi số, chuyển đổi số đã trở thành một lĩnh vực chi ngân sách với mức tối thiểu bằng 1% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm.
Nghị định số 224/2026/NĐ-CP ban hành ngày 24/6/2026 đã cụ thể hóa các nhiệm vụ chi và nội dung chi cho chuyển đổi số, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc lập dự toán và bố trí nguồn lực.
Hỗ trợ tới 30% kinh phí thử nghiệm công nghệ số
Điểm mới thứ hai là cơ chế hỗ trợ kinh phí thử nghiệm đối với các sản phẩm, giải pháp chuyển đổi số.
Theo quy định trước đây, doanh nghiệp phải tự bỏ toàn bộ chi phí để thử nghiệm sản phẩm. Ngay cả khi thử nghiệm thành công, doanh nghiệp vẫn chưa chắc được triển khai chính thức bởi phải tiếp tục tham gia đấu thầu và chỉ được thực hiện nếu trúng thầu.
Để khuyến khích đổi mới sáng tạo và thúc đẩy các giải pháp công nghệ mới, Nghị định 224 cho phép hỗ trợ tối đa 30% chi phí thử nghiệm, nhưng không quá 15 tỷ đồng/doanh nghiệp/nhiệm vụ thử nghiệm.
Cơ chế này được kỳ vọng sẽ giảm đáng kể rủi ro tài chính cho doanh nghiệp khi tham gia thử nghiệm các giải pháp phục vụ chuyển đổi số.
Cơ chế đặc thù cho nền tảng số và cơ sở dữ liệu quốc gia
Một điểm mới quan trọng khác là cơ chế đặc thù dành cho các nền tảng số quốc gia và cơ sở dữ liệu quốc gia. Đây đều là những dự án có quy mô lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đòi hỏi triển khai nhanh chóng, đồng bộ và thống nhất từ Trung ương đến địa phương.
Để đáp ứng yêu cầu đó, Nghị định 224 cho phép chỉ định một doanh nghiệp thực hiện toàn bộ quá trình từ nghiên cứu, lập dự án, thiết kế đến triển khai thực hiện.
Theo ông Lê Anh Tuấn, quy định này nhằm bảo đảm tiến độ triển khai cũng như tính đồng bộ của các hệ thống số quy mô quốc gia, tránh tình trạng phân tách nhiều đơn vị thực hiện làm phát sinh vướng mắc trong quá trình triển khai.
Cho phép một doanh nghiệp vừa thiết kế vừa triển khai phần mềm
Điểm mới thứ tư đó là các dự án phần mềm nội bộ được thiết kế, triển khai linh hoạt. Trước đây, quy định yêu cầu đơn vị thiết kế và đơn vị triển khai phải tách biệt. Tuy nhiên, đặc thù của việc phát triển phần mềm là một quá trình liên tục, bao gồm phân tích yêu cầu, thiết kế, xây dựng, kiểm thử và thường xuyên phải điều chỉnh theo nhu cầu thực tế của người sử dụng.
Việc chia tách hai đơn vị thực hiện khiến quá trình phát triển phần mềm thiếu linh hoạt, phát sinh nhiều thủ tục và không phù hợp với đặc tính của sản phẩm số.
Nghị định 224 cho phép một doanh nghiệp được thực hiện đồng thời cả thiết kế và triển khai phần mềm. Nhờ đó, khi có yêu cầu điều chỉnh chức năng hoặc thay đổi thiết kế, doanh nghiệp có thể chủ động thực hiện ngay mà không làm gián đoạn quá trình triển khai.
Gỡ áp lực trách nhiệm cho chủ đầu tư trong việc lấy báo giá
Một trong những khó khăn lớn trong triển khai các dự án chuyển đổi số thời gian qua là việc xác định giá dự toán.
Trước đây, chủ đầu tư phải lấy báo giá của doanh nghiệp để lập dự toán. Tuy nhiên, nhiều chủ đầu tư lo ngại rủi ro pháp lý nếu doanh nghiệp báo giá không chính xác hoặc nâng khống giá, dẫn đến tâm lý e ngại trong quá trình thẩm định, đấu thầu hoặc chỉ định thầu.
Để tháo gỡ vướng mắc này, Nghị định 224 đã bổ sung quy định về trách nhiệm của chủ đầu tư. Cụ thể, nếu chủ đầu tư thực hiện đầy đủ, công khai, minh bạch việc lấy báo giá theo quy định thì sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với trường hợp doanh nghiệp nâng khống giá. Trách nhiệm thuộc về chính doanh nghiệp cung cấp báo giá.
Quy định mới được đánh giá là góp phần giải tỏa tâm lý e ngại, giúp các chủ đầu tư mạnh dạn hơn trong quá trình triển khai các dự án chuyển đổi số.
Cho phép doanh nghiệp phát triển phần mềm trực tiếp quản trị, vận hành hệ thống
Điểm mới cuối cùng của Nghị định 224 liên quan đến công tác quản trị, vận hành các hệ thống phần mềm sau khi đưa vào sử dụng.
Theo ông Lê Anh Tuấn, nhiều hệ thống số chỉ có thể vận hành hiệu quả khi được quản trị, bảo trì thường xuyên. Tuy nhiên, trước đây doanh nghiệp phát triển phần mềm và doanh nghiệp thực hiện công tác quản trị, bảo trì thường là hai đơn vị khác nhau.
Trên thực tế, đơn vị quản trị, bảo trì không phải lúc nào cũng nắm rõ kiến trúc hệ thống, mã nguồn hay nguyên lý vận hành của phần mềm. Điều này dẫn đến nhiều khó khăn khi xử lý sự cố hoặc nâng cấp tính năng, thậm chí có thể ảnh hưởng đến hoạt động của cả hệ thống.
Để khắc phục tình trạng này, Nghị định 224 cho phép chỉ định chính doanh nghiệp đã phát triển phần mềm thực hiện công tác quản trị, vận hành hệ thống.
Theo đại diện Cục Chuyển đổi số quốc gia, việc bổ sung các quy định mới trong Nghị định 224 nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn lớn trong đầu tư, mua sắm và triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số sử dụng ngân sách nhà nước, đồng thời tạo điều kiện để các cơ quan, đơn vị triển khai chuyển đổi số nhanh hơn, linh hoạt hơn và hiệu quả hơn.











