81 năm xây dựng và phát triển ngành Văn hóa: Tiếp biến để phát triển công nghiệp văn hóa

Sau 81 năm xây dựng và phát triển (1945-2026), ngành Văn hóa không chỉ tạo dựng một kho tàng di sản, nghệ thuật và tri thức phong phú, mà còn hình thành nguồn vốn văn hóa quan trọng để phát triển kinh tế sáng tạo.

Trong giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra là chuyển hóa nguồn vốn ấy thành sản phẩm, dịch vụ và tài sản trí tuệ có sức cạnh tranh, đưa công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng mới của đất nước.

Theo Đại biểu Quốc hội Thành phố Hà Nội, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội PGS.TS Bùi Hoài Sơn, nhìn lại hành trình 81 năm của ngành Văn hóa, thành tựu lớn nhất của ngành Văn hóa không chỉ nằm ở số lượng di sản được bảo tồn, những công trình văn hóa được xây dựng hay các tác phẩm văn học, nghệ thuật được sáng tạo. Thành tựu sâu sắc hơn là góp phần gìn giữ căn cốt dân tộc, bồi đắp hệ giá trị, xây dựng con người và tạo nên sức mạnh tinh thần giúp đất nước vượt qua chiến tranh, khủng hoảng, khó khăn để phát triển.

Từ ngày 28/8/1945, khi cơ quan tiền thân của ngành Văn hóa được thành lập trong Chính phủ lâm thời, văn hóa luôn đồng hành với từng bước đi của cách mạng và dân tộc. Trong chiến tranh, văn hóa khơi dậy lòng yêu nước, củng cố niềm tin và ý chí độc lập. Trong hòa bình và đổi mới, văn hóa góp phần định hình nhân cách, xây dựng môi trường xã hội, bảo tồn di sản, mở rộng giao lưu quốc tế và nâng cao vị thế đất nước.

Đến hết năm 2025, Việt Nam đã có 37 di sản thuộc các loại hình được UNESCO ghi danh. Nhưng điều quan trọng hơn cả là trong quá trình đó, đất nước ta đã hình thành được một nguồn vốn văn hóa vô cùng phong phú: hệ thống di sản, lễ hội, nghệ thuật truyền thống, tri thức dân gian, nghề thủ công, ẩm thực, cảnh quan, ký ức lịch sử và những câu chuyện về con người Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng ta cũng xây dựng được đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân, nhà quản lý, doanh nghiệp và một công chúng ngày càng có nhu cầu hưởng thụ văn hóa đa dạng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định văn hóa là sức mạnh mềm, là "năng lượng gốc" vô tận của dân tộc Việt Nam. Nhìn từ góc độ phát triển công nghiệp văn hóa, đây cũng chính là nền tảng quan trọng để hình thành những sản phẩm và dịch vụ sáng tạo có giá trị.

Bởi công nghiệp văn hóa không bắt đầu từ nhà máy hay dây chuyền máy móc, mà bắt đầu từ bản sắc, tài năng sáng tạo và khả năng kể câu chuyện của một dân tộc. Trong chuỗi giá trị ấy, di sản là nguyên liệu; sáng tạo là phương thức; công nghệ là công cụ; sở hữu trí tuệ là tài sản; thị trường là không gian để các giá trị ấy được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ và sức cạnh tranh.

"Vì vậy, bài học lớn nhất của 81 năm qua chính là năng lực tiếp biến: biết bảo vệ những giá trị cốt lõi, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nhân loại để làm giàu thêm văn hóa dân tộc" - PGS. TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.

Trong phát triển công nghiệp văn hóa, tinh thần ấy càng trở nên cần thiết. Việt Nam không thể đóng cửa để giữ gìn bản sắc, nhưng cũng không thể hòa tan mình trong những dòng chảy văn hóa bên ngoài. Điều quan trọng là tiếp nhận, chuyển hóa và sáng tạo trên nền tảng bản sắc Việt Nam.

Sau hơn một thập kỷ triển khai Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, nhận thức xã hội về lĩnh vực này đã có sự chuyển biến rõ rệt. Nếu trước đây, văn hóa thường được nhìn chủ yếu như một lĩnh vực cần đầu tư để phục vụ đời sống tinh thần, thì ngày nay, văn hóa đã từng bước được nhìn nhận đồng thời là một nguồn lực kinh tế, một thị trường và một bộ phận quan trọng của sức mạnh mềm quốc gia.

Quá trình thực hiện Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa từ năm 2016 đã góp phần mở rộng quy mô thị trường, thúc đẩy sự gia tăng của doanh nghiệp, không gian sáng tạo, trung tâm sáng tạo và các hoạt động liên kết giữa văn hóa với du lịch, công nghệ, truyền thông.

Theo số liệu được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố, năm 2022, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 4,04% GDP và tạo khoảng một triệu việc làm cho xã hội.

Đáng chú ý, khu vực tư nhân và đội ngũ sáng tạo trẻ đang ngày càng khẳng định vai trò. Nhiều bộ phim Việt Nam đã tạo được thị trường trong nước; âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn và các chương trình giải trí có khả năng thu hút hàng chục nghìn khán giả; các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, thiết kế, thời trang và ẩm thực ngày càng gắn chặt hơn với thương hiệu địa phương; các nền tảng số mở ra cơ hội để sản phẩm văn hóa Việt Nam tiếp cận công chúng không chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho biết: Sáu lĩnh vực trọng tâm gồm điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, phần mềm và trò chơi giải trí, quảng cáo, thủ công mỹ nghệ và du lịch văn hóa đang cho thấy những dư địa phát triển đáng kể.

Mỗi lĩnh vực có một lợi thế riêng. Phần mềm, trò chơi điện tử và nội dung số có ưu thế về quy mô thị trường, khả năng nhân bản nhanh và tiếp cận công chúng toàn cầu. Điện ảnh, âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn có khả năng dẫn dắt xu hướng tiêu dùng, quảng bá hình ảnh đất nước và tạo ra những hiệu ứng lan tỏa tới du lịch, thời trang, ẩm thực.

Du lịch văn hóa có thể chuyển các giá trị di sản, cảnh quan, lễ hội và lối sống thành những trải nghiệm đặc sắc. Thủ công mỹ nghệ và thiết kế sáng tạo lại có khả năng đưa bản sắc Việt Nam vào từng sản phẩm cụ thể, tạo sinh kế cho cộng đồng và gia tăng giá trị xuất khẩu.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh: "Tiềm năng không tự động trở thành sức mạnh. Một lĩnh vực chỉ thực sự trở thành ngành công nghiệp khi hình thành được chuỗi giá trị tương đối hoàn chỉnh, từ sáng tạo, sản xuất, phân phối, truyền thông đến tiêu dùng và tái đầu tư. Đây chính là khoảng cách mà chúng ta cần tiếp tục thu hẹp".

Trong bối cảnh hiện nay, công nghiệp văn hóa đang đứng trước một "cửa sổ cơ hội" quan trọng khi các chủ trương lớn về văn hóa, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cùng hội tụ.

Nghị quyết số 80-NQ/TW tạo ra định hướng chiến lược về văn hóa; Nghị quyết số 57-NQ/TW cung cấp động lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; trong khi Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định rõ các ngành ưu tiên, mục tiêu và giải pháp tổ chức thị trường.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho biết: Nghị quyết số 80-NQ/TW khẳng định văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng, gắn phát triển văn hóa với xây dựng con người, kinh tế, chính trị và sức mạnh mềm quốc gia. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP và hình thành các thương hiệu văn hóa, nghệ thuật, sáng tạo có tầm vóc khu vực và quốc tế.

Trong khi đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của phát triển, đồng thời nhấn mạnh vai trò của thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược.

"Sự gặp nhau giữa hai nghị quyết tạo ra cơ hội để văn hóa Việt Nam chuyển mạnh sang mô hình phát triển dựa trên dữ liệu, công nghệ và tài sản trí tuệ. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ sáng tạo, dịch thuật, phục dựng và cá nhân hóa nội dung; công nghệ thực tế ảo, thực tế tăng cường giúp công chúng trải nghiệm di sản theo phương thức mới; dữ liệu lớn hỗ trợ nghiên cứu thị trường và phát triển công chúng; công nghệ số giúp quản lý bản quyền, phân phối sản phẩm và kết nối trực tiếp người sáng tạo với người tiêu dùng" – PGS.TS Bùi Hoài Sơn nêu.

Tuy nhiên, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cũng cho rằng, số hóa không chỉ là chụp ảnh hiện vật, lập hồ sơ điện tử hay đưa một chương trình lên mạng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã lưu ý rằng việc số hóa phải được đánh giá bằng khả năng tạo lập tri thức số, hình thành tài sản trí tuệ, phát triển sản phẩm sáng tạo và đóng góp thực chất vào tăng trưởng.

Đây là sự chuyển đổi rất quan trọng: từ số hóa để lưu giữ sang số hóa để sáng tạo và phát triển; từ dữ liệu đóng sang dữ liệu có thể được khai thác có trách nhiệm; từ phụ thuộc vào các nền tảng bên ngoài sang từng bước làm chủ hạ tầng, dữ liệu và kênh phân phối nội dung.

Nếu Nghị quyết số 80-NQ/TW trả lời câu hỏi công nghiệp văn hóa Việt Nam phát triển dựa trên những giá trị nào, thì Nghị quyết số 57-NQ/TW cung cấp thêm công cụ để đưa những giá trị ấy đến với công chúng nhanh hơn, rộng hơn và hiệu quả hơn.

Việt Nam đặt mục tiêu đưa tỷ trọng công nghiệp văn hóa từ khoảng 4% GDP hiện nay lên 7% vào năm 2030 và 9% vào năm 2045. Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, đây không đơn thuần là bài toán tăng thêm vài điểm phần trăm trong cơ cấu kinh tế, mà đòi hỏi sự chuyển đổi về tư duy, thể chế và mô hình phát triển.

Việt Nam cần hình thành một hệ sinh thái sáng tạo tương đối hoàn chỉnh, trong đó Nhà nước, người sáng tạo, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, nhà đầu tư, các tổ chức trung gian, công nghệ, hệ thống phân phối và công chúng cùng tham gia.

Để làm được điều đó, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, trước hết cần phải hoàn thiện thể chế theo hướng khuyến khích sáng tạo và chấp nhận rủi ro. Nhà nước cần tạo hành lang pháp lý minh bạch cho hoạt động đầu tư, tài trợ, hợp tác công – tư, đặt hàng sáng tạo, khai thác tài sản công, sử dụng không gian công cộng và thương mại hóa tài sản trí tuệ. Chính sách phải chuyển từ hỗ trợ bình quân sang lựa chọn những dự án có khả năng tạo hiệu ứng dẫn dắt.

Cùng với đó, cần xây dựng bản đồ tài nguyên và dữ liệu công nghiệp văn hóa quốc gia. Mỗi địa phương cần nhận diện rõ mình có những di sản, tài năng, doanh nghiệp, không gian sáng tạo và sản phẩm nào; đâu là lợi thế khác biệt có thể phát triển thành thương hiệu. Dữ liệu văn hóa cần được chuẩn hóa, liên thông và có cơ chế khai thác phù hợp, để trở thành nguyên liệu cho giáo dục, nghiên cứu, du lịch và sáng tạo.

Đào tạo nhân lực cũng phải đổi mới mạnh mẽ. Bên cạnh nghệ sĩ và người thực hành sáng tạo, phải đào tạo các nhà sản xuất, quản trị nghệ thuật, quản trị bản quyền, chuyên gia công nghệ văn hóa, giám tuyển, thiết kế, truyền thông và phân phối quốc tế. Các trường văn hóa, nghệ thuật cần tăng cường liên kết với doanh nghiệp và thị trường.

Ngoài ra, hình thành các cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù sáng tạo. Sản phẩm văn hóa thường có độ rủi ro cao, tài sản chủ yếu là ý tưởng và quyền sở hữu trí tuệ nên khó tiếp cận tín dụng theo cách thông thường. Vì thế, cần phát triển các quỹ văn hóa, quỹ đầu tư sáng tạo, cơ chế bảo lãnh, ưu đãi thuế, tài trợ đối ứng và các mô hình gọi vốn cộng đồng minh bạch.

Đặc biệt, phải đầu tư cho hạ tầng sản xuất và phân phối, nhất là hạ tầng số. Các không gian sáng tạo, trường quay, trung tâm biểu diễn, bảo tàng, trung tâm thiết kế và nền tảng nội dung phải được xây dựng trên cơ sở có sản phẩm, doanh nghiệp, công chúng và mô hình vận hành rõ ràng, tránh tình trạng đầu tư công trình nhưng thiếu hoạt động.

Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phải trở thành một trong những trụ cột của hệ sinh thái. Bản quyền cần được nhìn nhận như một loại tài sản có thể định giá, chuyển nhượng, thế chấp, cấp phép và tạo nguồn thu lâu dài. Thực thi bản quyền hiệu quả không chỉ bảo vệ người sáng tạo mà còn tạo niềm tin cho nhà đầu tư.

Cuối cùng là xây dựng chiến lược đưa sản phẩm Việt Nam ra thị trường quốc tế. Phải đầu tư từ khâu nghiên cứu công chúng, dịch thuật, thiết kế, quảng bá đến tham gia liên hoan, hội chợ, mạng lưới phân phối và nền tảng toàn cầu. Chúng ta cần những tổ chức trung gian đủ chuyên nghiệp để kết nối người sáng tạo Việt Nam với thị trường quốc tế.

Điều quan trọng nhất là đặt người sáng tạo và doanh nghiệp sáng tạo vào vị trí trung tâm của hệ sinh thái, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, cộng đồng cung cấp chất liệu văn hóa, công nghệ tạo khả năng mở rộng và thị trường kiểm nghiệm giá trị sản phẩm.

81 năm xây dựng và phát triển của ngành Văn hóa cho thấy bảo tồn và phát triển không phải hai quá trình đối lập. Ngược lại, bảo tồn những giá trị cốt lõi chính là tạo nền tảng để sáng tạo những giá trị mới.

Trong công nghiệp văn hóa, tinh thần tiếp biến vì thế mang một ý nghĩa đặc biệt. Đó không phải là sao chép những mô hình thành công từ nước ngoài, cũng không phải khép kín để bảo vệ truyền thống. Tiếp biến là tiếp nhận có chọn lọc, chuyển hóa bằng bản lĩnh văn hóa Việt Nam và sáng tạo ra những giá trị mới.

Khi làm được điều đó, mỗi di sản không chỉ là ký ức của quá khứ mà còn có thể trở thành nguồn cảm hứng cho tương lai. Mỗi sản phẩm văn hóa không chỉ tạo doanh thu mà còn mang theo câu chuyện, hình ảnh và khát vọng Việt Nam đến với thế giới.

Theo bvhttdl.gov.vn

Nguồn Báo Thể Thao & Văn Hóa: https://thethaovanhoa.vn/81-nam-xay-dung-va-phat-trien-nganh-van-hoa-tiep-bien-de-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-20260825095047567.htm