9 loại cây là vị thuốc giúp giải độc, mát gan hiệu quả

9 loại cây dưới đây được sử dụng trong y học cổ truyền với công dụng hỗ trợ thanh nhiệt, giải độc, bảo vệ và cải thiện chức năng gan.

1. Cà gai leo

Cà gai leo là cây dây leo mọc hoang tại Việt Nam, có vị the, đắng, tính ấm. Theo y học cổ truyền, cây cà gai giúp giải độc gan, hỗ trợ điều trị viêm gan, men gan cao, đau nhức xương khớp nhẹ và giảm mệt mỏi do rượu bia. 

Toàn thân cây, đặc biệt là rễ và quả phơi khô, thường được đun nước uống hoặc ngâm rượu. Nghiên cứu khoa học ghi nhận hoạt chất solasodin, glycoalkaloid, flavonoid và saponin trong cà gai leo có tác dụng chống viêm, chống oxy hóa, bảo vệ tế bào gan, giảm xơ hóa và cải thiện men gan AST, ALT. 

Tuy nhiên, dược liệu này chỉ mang tính hỗ trợ, không thay thế thuốc chữa bệnh.

Cà gai leo (trái) và rau má (phải) là hai cây thuốc có nhiều công dụng. Ảnh: Bộ Y tế

Cà gai leo (trái) và rau má (phải) là hai cây thuốc có nhiều công dụng. Ảnh: Bộ Y tế

2. Rau má

Rau má (liên tiền thảo, tích tuyết thảo) thuộc họ Hoa tán, mọc hoang phổ biến khắp Việt Nam. Dược liệu có vị đắng, hăng, dùng ở dạng tươi hoặc sao vàng.

 Theo dân gian, rau má có tính bình, tác dụng thanh nhiệt trừ thấp, giải độc, tiêu viêm và làm mát. Cây được dùng chữa sốt, mụn nhọt, vàng da, thổ huyết, chảy máu cam, táo bón, ho và tiểu rắt buốt. 

Người dân có thể vò nát lấy nước uống, ăn sống hoặc sắc khô; khi kết hợp với cỏ nhọ nồi sẽ tăng hiệu quả cầm máu.

3. Dành dành

Cây dành dành (sơn chi tử, chi tử) thuộc họ cà phê, cao khoảng 1-2m, xanh tốt quanh năm. Cây thường mọc hoang ven suối ở miền núi hoặc được trồng làm cảnh, làm thuốc và nhuộm màu thực phẩm. Mùa thu, quả chín được hái về phơi sấy khô để làm dược liệu.

Theo Đông y, dành dành có tác dụng thanh nhiệt trừ phiền, lợi tiểu, lương huyết và chỉ huyết. Dược liệu này còn được dùng để chữa sốt cao, bồn chồn, mất ngủ, vàng da, tiểu tiện khó hoặc ra máu, chảy máu cam, nôn ra máu và sưng đau.

4. Phèn đen

Cây phèn đen (cây nỗ, tạo phan diệp) thuộc họ Thầu dầu, mọc dại hoặc được trồng làm thuốc phổ biến tại châu Á và Việt Nam. 

Bộ phận sử dụng thường là vỏ thân và lá (tươi hoặc khô). Vỏ thân ngoài nâu sẫm, trong nâu đỏ, vị chát nhạt, dùng chữa chứng tiểu khó. Lá phơi khô chế thành viên (dùng riêng hoặc phối hợp với lá long não, xuyên tiêu) giúp chữa chảy máu chân răng. 

Ngoài ra, lá cây hỗ trợ vết thương mau lên da non, còn búp và lá non được dùng điều trị tiêu chảy.

5. Diệp hạ châu

Diệp hạ châu (cây chó đẻ răng cưa, diệp hòe thái, lão nha châu) thuộc họ Thầu dầu, chỉ loại thân đỏ mới dùng làm thuốc. Với vị đắng, tính mát, cây nổi bật nhờ tác dụng thanh can nhiệt và giải độc, giúp hỗ trợ điều trị các bệnh lý về gan, sốt, mụn nhọt. 

Nghiên cứu tại Nhật Bản và Ấn Độ chỉ ra các hoạt chất phyllantin, hypophyllantin, triacontanal trong cây diệp hạ châu có khả năng giải độc, hỗ trợ điều trị viêm gan và gan nhiễm mỡ. 

6. Cỏ mần trầu

Cỏ mần trầu là loài thực vật mọc hoang phổ biến tại Việt Nam ở ven đường, bờ ruộng hay sân vườn. Trong y học dân gian, mần trầu là vị thuốc lành tính giúp thanh nhiệt, giải độc, làm mát cơ thể khi bị nóng trong, hỗ trợ tiêu hóa, giảm táo bón nhẹ, dịu rôm sảy và sốt nhẹ. Nhờ tác dụng lợi tiểu, cây còn giúp đào thải độc tố qua đường tiết niệu. 

Nghiên cứu cho thấy cỏ mần trầu chứa flavonoid, polyphenol cùng nhiều hợp chất sinh học có khả năng chống oxy hóa, giảm viêm và hạ sốt. Ngoài ra, cỏ mần trầu còn giúp bảo vệ gan nhẹ.

Về cách dùng, toàn cây (tươi hoặc phơi khô) thường được nấu nước uống hằng ngày thay nước lọc. Cây có thể kết hợp với râu ngô, mã đề để tăng hiệu quả thanh nhiệt. Ngoài ra, ngọn non còn dùng làm rau ăn, hoặc nấu nước gội đầu giúp làm sạch da đầu và giảm rụng tóc.

Cỏ mần trầu. Ảnh: N. Huyền

Cỏ mần trầu. Ảnh: N. Huyền

7. Rau diếp cá

Cây diếp cá (ngư tinh thảo) mọc hoang ở nơi ẩm thấp tại Việt Nam, thường dùng làm rau gia vị hoặc phơi khô làm dược liệu. Cây chứa 0,0049% tinh dầu (gồm metylnonylxeton tạo mùi đặc trưng, mycren, axit caprinic, laurinaldehyt) và ancaloit (cordalin). Nhờ quexitrin và chất vô cơ, diếp cá có tác dụng lợi tiểu rõ rệt. 

Theo Y học cổ truyền, cây có vị cay, tính hơi lạnh, giúp tán nhiệt, tiêu ung thũng, giải độc gan, chống viêm, giảm cholesterol, chữa phế ung, bệnh trĩ và lở loét ngoài da. Nước ép lá tươi hỗ trợ cải thiện chức năng gan hiệu quả.

Rau diếp cá. Ảnh: Ngọc Vân 

Rau diếp cá. Ảnh: Ngọc Vân 

8. Cây hẹ

Cây hẹ (nén tàu, phi tử, cửu thái - Allium odorum L.) thuộc họ Hành tỏi, dùng toàn cây (lá, rễ, hạt) làm thuốc. Hẹ chứa hợp chất sunfua, saponin, chất đắng và hoạt chất odorin có tác dụng kháng sinh với Staphylococcus aureus và Bacillus coli. Do không cay nóng như tỏi nên hẹ dễ dùng cho trẻ em. Tuy nhiên, tính kháng sinh giảm trong môi trường acid và mất hoàn toàn khi đun sôi.

Theo Đông y, hẹ có vị cay ngọt, tính ôn, tốt cho gan và thận, ấm lưng gối, hỗ trợ tiêu hóa, chữa di tinh, mộng tinh, tiểu nhiều, kiết lỵ, đau lưng gối. Dân gian thường hấp lá hẹ với đường phèn chữa ho cho trẻ (20-30g/ngày), dùng nước sắc chữa giun kim, hoặc dùng hạt hẹ (6-12g/ngày) chữa khí hư, tiểu ra máu.

9. Cây bồ công anh

Bồ công anh Việt Nam khác với bồ công anh châu Âu (Taraxacum officinale). Trong Y học cổ truyền, bồ công anh giúp thanh nhiệt, giải độc, mát gan, hỗ trợ điều trị viêm gan, nóng trong, nổi mụn, đầy bụng và tắc tia sữa, viêm vú. Nghiên cứu ghi nhận cây chứa flavonoid, sesquiterpen lacton, polyphenol, có vị đắng ngọt, tính mát, có khả năng chống oxy hóa, chống viêm, kháng khuẩn nhẹ và giảm tổn thương gan do stress oxy hóa.

Lá và ngọn non có thể ăn sống, luộc, nấu canh; toàn cây phơi khô sắc nước uống hoặc kết hợp bài thuốc mát gan. Dù vậy, hiệu quả lâm sàng của cây chủ yếu ở mức hỗ trợ. Chuyên gia lưu ý người tỳ vị hư hàn, dễ tiêu chảy nên dùng vừa phải, phụ nữ mang thai cẩn trọng khi dùng kéo dài và không dùng thay thế điều trị viêm gan nặng.

Cây bồ công anh. Ảnh: N. Huyền 

Cây bồ công anh. Ảnh: N. Huyền 

Nhật An

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/9-loai-cay-la-vi-thuoc-giup-giai-doc-mat-gan-hieu-qua-2550274.html