An Giang tái cơ cấu công nghiệp, kiến tạo động lực tăng trưởng mới
Giai đoạn 2026-2030, An Giang đặt mục tiêu tăng trưởng công nghiệp khoảng 13,05%/năm, thúc đẩy đổi mới mô hình, nâng hàm lượng công nghệ và gia tăng chuỗi giá trị.
Định vị lại công nghiệp trong cơ cấu tăng trưởng
Trong bối cảnh yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh ngày càng cấp thiết, tái cơ cấu công nghiệp không còn đơn thuần là câu chuyện mở rộng nhà máy hay gia tăng sản lượng. Vấn đề cốt lõi nằm ở khả năng tạo ra giá trị lớn hơn trên cùng một đơn vị nguyên liệu, nâng năng suất lao động và đưa doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Đó cũng là định hướng xuyên suốt Quyết định số 1514/QĐ-UBND ngày 28/4/2026 của UBND tỉnh An Giang, phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành công nghiệp giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035.
Theo Đề án, An Giang phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp bình quân giai đoạn 2026-2030 đạt từ 13,05%/năm trở lên; đến năm 2030, công nghiệp chiếm 14-15% GRDP theo giá so sánh. Đáng chú ý, 8 ngành công nghiệp ưu tiên được kỳ vọng tăng trưởng bình quân ít nhất 12,99%/năm, đóng góp 83,70% giá trị tăng thêm toàn ngành vào năm 2030.
Những chỉ tiêu này cho thấy, địa phương lựa chọn phát triển công nghiệp có trọng tâm, thay vì phân bổ nguồn lực đồng đều cho mọi lĩnh vực. Tuy nhiên, thước đo thành công không chỉ là tốc độ tăng trưởng, mà còn là chất lượng của cơ cấu công nghiệp được hình thành.

An Giang phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp bình quân giai đoạn 2026-2030 đạt từ 13,05%/năm trở lên.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Minh Triết, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh An Giang cho biết, tỉnh đang tập trung triển khai Đề án tái cơ cấu ngành công nghiệp theo Quyết định 1514/QĐ-UBND. Đây là căn cứ quan trọng để chuyển các định hướng phát triển thành chương trình, nhiệm vụ cụ thể.
Bức tranh cơ cấu công nghệ phần nào cho thấy thách thức đặt ra. Đến năm 2030, An Giang đặt mục tiêu nâng tỷ trọng công nghiệp công nghệ cao lên 9,45%, tăng 6,11 điểm phần trăm so với năm 2025; công nghệ trung bình đạt 10,09%, tăng 1,88 điểm phần trăm. Trong khi đó, công nghiệp công nghệ thấp giảm 6,62 điểm phần trăm, còn 68,35%. Như vậy, ngay cả khi hoàn thành mục tiêu, nhóm công nghệ thấp vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Điều này đặt ra yêu cầu thực tế: chuyển dịch cơ cấu không thể chỉ trông chờ vào việc thu hút những dự án công nghệ cao hoàn toàn mới, mà phải bắt đầu từ hiện đại hóa các ngành hiện hữu.
Với lợi thế nông nghiệp, thủy sản, kinh tế biển và nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất, An Giang có cơ sở phát triển công nghiệp chế biến theo hướng chuyên sâu. Thay vì chủ yếu sơ chế, doanh nghiệp cần được khuyến khích đầu tư công nghệ bảo quản, chế biến sâu, tự động hóa và phát triển sản phẩm có thương hiệu. Tương tự, năng lượng, vật liệu xây dựng và công nghiệp môi trường cần được tổ chức phát triển theo hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải.
Đề án cũng nhấn mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và mô hình cộng sinh công nghiệp. Đây không chỉ là yêu cầu thích ứng xu thế xanh hóa sản xuất, mà còn là giải pháp nâng sức cạnh tranh khi các thị trường ngày càng chú trọng tiêu chuẩn môi trường và truy xuất nguồn gốc.
Bài toán của An Giang vì thế là tạo được sự chuyển biến đồng thời trên hai phương diện: nâng cấp các động lực truyền thống và từng bước hình thành những ngành công nghiệp mới có năng suất, hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn.
Bài toán chuyển hóa nguồn lực
Nếu tái cơ cấu ngành công nghiệp xác định hướng đi, thì chất lượng và tiến độ các dự án đầu tư sẽ quyết định hiệu quả thực tế. Một chiến lược phát triển dù có mục tiêu tham vọng cũng khó tạo chuyển biến nếu thiếu mặt bằng sản xuất, hạ tầng kết nối và doanh nghiệp đủ năng lực triển khai.
Điểm đáng chú ý trong Quyết định 1514/QĐ-UBND là định hướng tổ chức công nghiệp theo chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành và các không gian sản xuất phù hợp lợi thế từng địa bàn. Theo đó, công nghiệp chế biến cần gắn với vùng nguyên liệu, hệ thống bảo quản, vận tải và thị trường tiêu thụ, thay vì phát triển những cơ sở sản xuất thiếu liên kết.
Danh mục dự án công nghiệp trọng điểm, ưu tiên đến năm 2030 cho thấy An Giang đang tìm kiếm động lực từ nhiều nhóm sản phẩm. Trong lĩnh vực chế biến thực phẩm, dự án chế biến sữa bò công nghệ cao tại xã Vĩnh Gia, gắn với Tập đoàn TH, được xác định là một trong những dự án trọng điểm. Tuy nhiên, tài liệu kèm Quyết định 1514 cho biết, dự án đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư nhưng chưa thực hiện tại thời điểm lập danh mục.
Cùng với đó, dự án sấy, chế biến lúa gạo và kho bảo quản sau thu hoạch tại xã Nhơn Mỹ đã được cấp chứng nhận đầu tư tháng 10/2025. Đây là hướng phát triển có ý nghĩa đối với việc nâng cao giá trị hạt gạo, bởi khâu sấy và bảo quản ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguyên liệu phục vụ chế biến.
Trong lĩnh vực thủy sản, dự án chế biến thủy sản Liên Việt II tại xã Bình An đã được cấp chứng nhận đầu tư tháng 2/2025. Trong khi đó, dự án chế biến đông lạnh thủy sản tại Khu công nghiệp Bình Long đang thực hiện thủ tục đầu tư theo danh mục được phê duyệt. Các dự án có quy mô, sản phẩm và trạng thái pháp lý khác nhau, nhưng cùng đặt ra một yêu cầu: đầu tư chế biến phải đi đôi với nâng cấp công nghệ, phát triển nguồn nguyên liệu ổn định và tổ chức hiệu quả khâu tiêu thụ.
Ở góc độ quản lý nhà nước, cần phân biệt rõ dự án đã được cấp phép, dự án đang hoàn thiện thủ tục với dự án đã vận hành thương mại. Số lượng dự án trong danh mục ưu tiên chưa thể đồng nhất với năng lực sản xuất mới đã hình thành.
Một hướng đi khác là tái cấu trúc hạ tầng công nghiệp. Theo Đề án, An Giang định hướng phát triển hệ thống 44 cụm công nghiệp, trong đó ưu tiên 5 cụm đến năm 2030 có nhiệm vụ tiếp nhận các cơ sở công nghiệp phải di dời. Đồng thời, tỉnh định hướng phát triển 22 điểm công nghiệp tập trung, gồm các cụm nhà máy và dự án chế biến gắn với vùng nguyên liệu.
Việc bố trí sản xuất tập trung có thể góp phần giải quyết đồng thời nhiều vấn đề: sử dụng đất hiệu quả hơn, đầu tư hạ tầng xử lý môi trường tập trung, giảm chi phí kết nối và tạo điều kiện hình thành mạng lưới doanh nghiệp hỗ trợ nhau trong sản xuất. Song, quy hoạch nhiều cụm công nghiệp không đồng nghĩa với khả năng thu hút đầu tư tương ứng. Hiệu quả chỉ được kiểm chứng khi hạ tầng hoàn thiện, tỷ lệ lấp đầy tăng lên và doanh nghiệp thực sự đưa cơ sở vào hoạt động.
Để làm được điều đó, nguồn lực đầu tư cần được phân vai rõ ràng. Đầu tư công tập trung vào hạ tầng khung và kết nối thiết yếu; kinh tế tư nhân tham gia phát triển hạ tầng, nhà máy, dịch vụ hỗ trợ; còn nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cần được thu hút có chọn lọc, ưu tiên công nghệ và khả năng liên kết với doanh nghiệp địa phương.
Theo Quyết định 1514/QĐ-UBND, Sở Công Thương được giao chủ trì tham mưu kế hoạch triển khai Đề án, phối hợp các đơn vị liên quan và định kỳ tổng hợp kết quả thực hiện. Cơ chế theo dõi này cần gắn với tiến độ đầu tư, khả năng giải quyết vướng mắc và hiệu quả thực chất của từng dự án.
Từ một địa phương có nhiều lợi thế về tài nguyên, nguyên liệu và vị trí địa kinh tế, An Giang đang đứng trước cơ hội tổ chức lại nền tảng công nghiệp theo hướng hiện đại hơn. Nhưng để tạo bước chuyển trong giai đoạn 2026-2030, điều quyết định vẫn là biến danh mục ưu tiên thành năng lực sản xuất thực tế, biến liên kết ngành thành chuỗi giá trị và biến nguồn lực đầu tư thành tăng trưởng bền vững.
Theo định hướng tái cấu trúc không gian công nghiệp tại Quyết định số 1514/QĐ-UBND, An Giang tổ chức các tiểu vùng và hành lang phát triển nhằm khai thác lợi thế từng khu vực. Trục liên kết giữa vùng nguyên liệu nông nghiệp nội địa, không gian kinh tế biên giới với Campuchia và khu vực ven biển được đặt trong mối quan hệ với hệ thống giao thông liên vùng Đồng bằng sông Cửu Long, hướng tới tăng tính kết nối và hiệu quả phân bố sản xuất.

