Ánh lửa ký ức của mẹ Nguyễn Thị Bông

Về phường Tân An, tỉnh Tây Ninh hôm nay, giữa nhịp sống đô thị hiện đại, thật khó hình dung nơi đây từng là vùng đất lửa, chứng kiến sự hy sinh oanh liệt của biết bao chiến sĩ cách mạng. Trong mạch nguồn truyền thống ấy, Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Bông như một biểu tượng sống động của lòng trung kiên.

Góa phụ tuổi 27

Người dân vẫn tự hào nhắc lại rằng, khu Tân An thuở ấy “80 nóc nhà thì có tới 70 nóc nhà có người làm cách mạng”. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nơi đây là cửa ngõ kết nối nhiều hướng chiến trường, vì vậy luôn bị địch kiểm soát gắt gao, sẵn sàng bắn giết bất cứ ai chúng nghi ngờ là Việt cộng.

Mẹ Nguyễn Thị Bông sinh năm 1940 trong một gia đình có truyền thống cách mạng; mẹ, chú và em trai của mẹ đều là cán bộ của ta. Ngay từ nhỏ, mẹ đã chứng kiến cảnh quê hương bị giày xéo, người thân bị bắt bớ, tra tấn, bức hại. Lòng căm thù sục sôi đã hun đúc ý chí để mẹ tiếp nối con đường cách mạng của gia đình như một lẽ tự nhiên. Mẹ âm thầm nuôi giấu cán bộ, trở thành hậu phương vững chắc cho chồng hoạt động bí mật, giữ trọn niềm tin vào ngày thắng lợi.

Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Bông tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống LLVT tỉnh Long An (22-8-1945 / 22-8-2025).

Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Bông tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống LLVT tỉnh Long An (22-8-1945 / 22-8-2025).

Địch thường xuyên càn quét, lùng sục, kiểm soát chặt chẽ từng con đường, từng ngôi nhà, khiến cuộc sống của người dân luôn trong cảnh thấp thỏm, lo âu. Nhà mẹ Bông nhiều lần bị chúng kéo đến tra hỏi, quấy nhiễu. Trước những ánh mắt soi mói và lời đe dọa, mẹ vẫn điềm tĩnh đáp: “Tôi không biết gì hết, tôi chỉ biết làm ruộng, chăm con…”. Không chỉ vậy, mẹ còn dặn các con “ai hỏi gì cũng nói không biết, tuyệt đối không được nói có ba hay các chú, các bác về nhà”, bởi mẹ hiểu rằng chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể khiến cả cơ sở cách mạng bị tổn thất nặng nề.

Không chỉ là hậu phương, mẹ Bông còn trực tiếp tham gia giúp đỡ cách mạng với vai trò giao liên. Mẹ giấu thư từ trong búi tóc để qua mắt địch, len lỏi qua các đồn bốt. Những chuyến đi ấy luôn tiềm ẩn hiểm nguy, nhưng mẹ chưa từng chùn bước, góp phần giữ vững mạch liên lạc trong thời điểm cam go nhất. Mẹ còn âm thầm tiếp tế lương thực, thuốc men cho các cơ sở cách mạng.

Năm 1967, giữa cao điểm chiến lược “chiến tranh cục bộ” của kẻ thù, chồng mẹ là ông Lê Văn Khương đã hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ cài mìn tiêu diệt phương tiện của địch. Mẹ như chết lặng khi người chồng thân yêu không còn. Trong cảnh nghèo khó, mẹ phải đi xin từng đồng để lo hậu sự. Gom góp được 4.000 đồng, mẹ dùng 3.700 đồng mua hòm, 300 đồng mua vải làm khăn tang. Không có bàn thờ, mẹ phải mượn chiếc ghế của bà Sáu nấu rượu để làm nơi thờ cúng, mối mọt gặm nhấm cả tấm khăn tang.

Trở thành góa phụ khi mới 27 tuổi, mẹ không đi thêm bước nữa. Một mình mẹ vừa làm ruộng, vừa làm cha, làm mẹ, nuôi các con trong cảnh thiếu thốn đủ bề. Nhưng vượt lên nỗi đau riêng, mẹ vẫn một lòng theo cách mạng, bởi với mẹ, sự hy sinh của chồng càng thôi thúc mẹ phải kiên cường, vững vàng hơn.

Sống vì cách mạng, chết cũng vì cách mạng

Có những lần tận mắt chứng kiến chiến sĩ ta bị địch sát hại rồi bỏ lại bên đường, mẹ cùng chị em trong xóm lặng lẽ chôn cất giữa đồng ruộng. Mẹ kể, khi ấy nước ngập mênh mông, mẹ phải đứng dưới dòng nước dìm thi thể liệt sĩ xuống, còn chị em phía trên xúc từng vốc đất thả xuống, rồi kiên nhẫn vun đắp thành một nấm mồ nhỏ. Mẹ chỉ nói giản dị rằng “đã làm cách mạng thì phải mạnh dạn, phải biết thương anh em như ruột thịt trong nhà”. Chính tình thương ấy đã giúp mẹ vượt qua nỗi sợ hãi để làm nên những nghĩa cử lặng thầm mà cao cả.

Một lần, hành động ấy của mẹ đã lọt vào mắt của lính ngụy, chúng bắt mẹ lên dinh quận trưởng tra hỏi việc chôn cất Việt cộng. Mẹ bình thản trả lời: “Mình là người Việt Nam, thấy các em, các chú chết ngoài ruộng thì chôn, có gì đâu”. Câu nói mộc mạc mà đanh thép khiến chúng lúng túng, rồi phải thả mẹ về.

Trong suốt những năm tháng chiến tranh, mẹ hai lần bị địch bắt, giam cầm và tra tấn dã man. Tại ty cảnh sát Long An, chúng bắt mẹ nằm ngửa trên ghế đẩu, thân người ưỡn cong, đầu và chân chúc xuống, rồi đánh đập, ép khai báo. Khi bị đe dọa bắn chết, mẹ vẫn kiên quyết nói: “Nếu giết tôi thì hãy đưa cả 5 đứa con nhỏ của tôi đến đây, trước cột cờ này, mẹ con chúng tôi cùng chết”.

Bà Lê Thị Thớt, con gái út của mẹ Bông, cho biết: Không khai thác được gì, địch đành thả mẹ ra. Mẹ trở về nhà với thân thể “bầm tím như củ khoai lang”, ông bà ngoại và cả gia đình ai cũng xót xa, khóc cạn nước mắt.

Sống trong vùng địch kiểm soát, mẹ và bà con còn bị chúng bắt đi “đốn lá”, một thủ đoạn nhằm triệt phá nơi ẩn náu của cách mạng và biến người dân thành lá chắn sống trước mìn, chông. Mẹ không khuất phục. Bằng sự chân thành, mẹ còn cảm hóa được một số lính ngụy. Họ coi mẹ như người chị, chia sẻ những câu chuyện đời thường, để rồi giữa khói lửa vẫn le lói những tia sáng của tình người.

 Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Bông.

Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Bông.

Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiều người tin rằng sự mất mát, hy sinh đã lùi vào quá khứ. Nhưng với mẹ, nỗi đau vẫn còn đó. Tháng 12-1975, người con trai đầu của mẹ - anh Lê Văn Thanh, khi đó là Xã đội phó xã Bình Tâm, huyện Châu Thành, tỉnh Long An (nay là phường Tân An, tỉnh Tây Ninh) đã hy sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ tại địa phương. Anh được công nhận là liệt sĩ và cấp Bằng Tổ quốc ghi công (năm 1994).

Sự hy sinh ấy không diễn ra giữa khói lửa chiến trường, nhưng vẫn đau đớn và ám ảnh như một vết thương chưa kịp lành. Thêm một lần nữa, mẹ phải tiễn người thân ra đi. Nỗi đau chồng chất nhưng mẹ vẫn lặng lẽ chịu đựng, tiếp tục sống với niềm tin đã theo mình suốt cuộc đời. Mẹ nói: “Sống cũng vì cách mạng, chết cũng vì cách mạng”.

Thượng tá Võ Đức Dũng, Phó chủ nhiệm Chính trị Bộ CHQS tỉnh Tây Ninh cho biết, cuộc đời của mẹ Bông là minh chứng sinh động cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng của người phụ nữ Việt Nam. Những hy sinh thầm lặng của mẹ và các gia đình có công đã góp phần làm nên thắng lợi của dân tộc, là nền tảng để thế hệ hôm nay tiếp tục phấn đấu, rèn luyện và bảo vệ Tổ quốc.

Năm nay, mẹ Nguyễn Thị Bông đã bước sang tuổi 86. Nhắc lại những ngày tháng ấy, trong mắt mẹ ánh lên niềm tự hào, đôi lúc nghẹn lại kể về người chồng và con trai đã hy sinh. Lo mẹ tuổi cao, sức yếu, chúng tôi xin phép ra về sớm. Rời căn nhà nhỏ giữa vùng đất Tân An yên bình hôm nay, chúng tôi càng thấm thía hơn những hy sinh, mất mát lớn lao mà những người bà, người mẹ năm xưa cho ngày Bắc - Nam sum họp một nhà.

LƯƠNG ANH - HOÀI NHÂN

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/ba-me-viet-nam-anh-hung/anh-lua-ky-uc-cua-me-nguyen-thi-bong-1033579