Áp thuế tối thiểu toàn cầu tại Việt Nam: 200 doanh nghiệp, dự án phát sinh nghĩa vụ thuế bổ sung
Theo chia sẻ tại Hội thảo Thuế và Pháp lý 2026 (Tax & Legal Institute 2026) do KMPG Việt Nam tổ chức ngày 27/10, trong khoảng 1.500 doanh nghiệp thuộc diện áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu tại Việt Nam, khoảng 200 doanh nghiệp và dự án phát sinh nghĩa vụ thuế bổ sung.
Khoảng 200 doanh nghiệp, dự án phát sinh thuế bổ sung
Tại phiên thảo luận về thuế tối thiểu toàn cầu trong khuôn khổ Hội thảo Thuế và Pháp lý KPMG 2026, các chuyên gia cho rằng việc áp dụng mức thuế tối thiểu toàn cầu đang tác động đến hiệu quả của các chính sách ưu đãi thuế truyền thống, đồng thời đặt ra yêu cầu Việt Nam cần đa dạng hóa các công cụ hỗ trợ nhà đầu tư.
Chia sẻ tại sự kiện, bà Nguyễn Thu Hường, Trưởng Bộ phận Giải quyết tranh chấp và bất đồng về thuế KPMG Việt Nam, cho biết trong khoảng 1.500 doanh nghiệp thuộc diện áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu tại Việt Nam, chỉ khoảng 200 doanh nghiệp và dự án phát sinh nghĩa vụ thuế bổ sung.
“Trong 1.500 doanh nghiệp đó thì chỉ có 200 doanh nghiệp và dự án thuộc đối tượng mà phát sinh nghĩa vụ thuế bổ sung”, bà Hường cho biết.
Theo cơ chế thuế tối thiểu toàn cầu, các tập đoàn đa quốc gia thuộc phạm vi áp dụng phải bảo đảm mức thuế suất thực tế tối thiểu 15% tại các quốc gia liên quan. Vì vậy, khi một doanh nghiệp được hưởng ưu đãi khiến mức thuế thực tế thấp hơn ngưỡng này, phần thuế bổ sung có thể phát sinh theo các quy định áp dụng.
Bà Lê Thị Kiều Nga, Trưởng Dịch vụ Tư vấn Chiến lược Thuế KPMG Việt Nam, phân tích rằng nếu phần thuế bổ sung không được nộp tại Việt Nam, nghĩa vụ này có thể được thu tại quốc gia nơi đặt công ty mẹ hoặc công ty mẹ trung gian, tùy theo quy định liên quan.

Phiên thảo luận trong khuôn khổ Hội thảo Thuế và Pháp lý 2026 (Tax & Legal Institute 2026) do KMPG Việt Nam tổ chức ngày 27/10
Nếu doanh nghiệp không nộp phần thuế bổ sung tại Việt Nam, khoản thuế này có thể được thu tại quốc gia nơi đặt công ty mẹ hoặc công ty mẹ trung gian. Như vậy, doanh nghiệp vẫn phải nộp mức thuế suất thực tế tối thiểu 15%, bà Nga cho hay.
Điều này khiến ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp truyền thống giảm hiệu quả đối với các tập đoàn thuộc diện áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu. Nếu mức thuế thực tế đã thấp hơn ngưỡng 15%, phần lợi ích từ ưu đãi có thể không còn được giữ lại hoàn toàn tại doanh nghiệp mà chuyển thành khoản thu bổ sung ở một quốc gia khác.
Cạnh tranh thu hút FDI không chỉ dựa vào ưu đãi thuế
Theo bà Nga, trong bối cảnh mới, chính sách hỗ trợ đầu tư cần được nhìn nhận rộng hơn thay vì chỉ tập trung vào ưu đãi thuế. Các cơ chế hỗ trợ có thể bao gồm điều kiện tiếp cận đất đai, các gói tín dụng và hỗ trợ chi phí đào tạo nhân lực.
Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu chuyển từ thu hút vốn đầu tư nước ngoài bằng mọi giá sang lựa chọn các dự án có chất lượng, tạo giá trị thực chất cho nền kinh tế. Khi ưu đãi thuế không còn tạo ra khác biệt lớn đối với một số tập đoàn đa quốc gia, những yếu tố khác của môi trường đầu tư sẽ có vai trò quan trọng hơn.
Bà Hường cho biết nhà đầu tư không chỉ cân nhắc mức thuế suất hay ưu đãi thuế khi quyết định địa điểm rót vốn. Các yếu tố như vị trí chiến lược của Việt Nam so với những quốc gia khác, chất lượng hạ tầng và chính sách lao động cũng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư.
Bên cạnh đó, các cơ chế hỗ trợ nghiên cứu và phát triển (R&D), khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng được đề cập tại phiên thảo luận. Theo nội dung trao đổi, việc thiết kế chính sách cần tính đến khả năng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động tạo ra giá trị gia tăng, thay vì chỉ dựa vào ưu đãi thuế suất.
Tại phiên thảo luận, bà Nga cũng đề cập khả năng các quy định hướng dẫn về thuế tối thiểu toàn cầu được điều chỉnh theo hướng dẫn của OECD, trong đó có nội dung liên quan đến khoản khấu trừ chi phí R&D ở mức 200%. Tuy nhiên, phạm vi và cách thức áp dụng nội dung này cần được đối chiếu với văn bản pháp lý chính thức trước khi kết luận về tác động đối với nghĩa vụ thuế tối thiểu toàn cầu.
Nhà đầu tư cần chính sách rõ ràng, ổn định
Bên cạnh các cơ chế hỗ trợ đầu tư, tính ổn định và minh bạch của chính sách cũng là yếu tố được các chuyên gia nhấn mạnh.
Bà Hoàng Thùy Dương, Trưởng Khối Tư vấn Thuế KPMG Việt Nam, cho rằng quyết định đầu tư nước ngoài thường gắn với kế hoạch dài hạn, bởi doanh nghiệp có thể xây dựng cơ sở sản xuất, thương mại hoặc dịch vụ trong thời gian 10, 20, thậm chí 30 năm. Các dự án này còn có mối liên kết với chuỗi cung ứng trong khu vực và trên toàn cầu.
Vì vậy, nhà đầu tư cần có khả năng dự đoán tương đối rõ về môi trường chính sách trong suốt vòng đời dự án. Bà Dương nhận định: “Tôi đánh giá là trong năm 2026 và năm năm tiếp theo thì cái khuôn khổ chính sách áp dụng đối với đầu tư nước ngoài đã rõ ràng và ổn định hơn rất nhiều”.
Theo bà Dương, đầu tư hạ tầng cũng là một yếu tố quan trọng để nâng cao sức hấp dẫn của Việt Nam. Bên cạnh đó, các cơ hội từ khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do và trung tâm tài chính quốc tế có thể tạo thêm dư địa thu hút những dòng vốn đầu tư quy mô lớn.
Thuế tối thiểu toàn cầu là cơ chế được xây dựng nhằm bảo đảm các tập đoàn đa quốc gia lớn chịu mức thuế suất thực tế tối thiểu 15% tại những quốc gia, vùng lãnh thổ nơi họ hoạt động. Theo quy định của Việt Nam, chính sách áp dụng với các đơn vị thuộc tập đoàn đa quốc gia có doanh thu hợp nhất của công ty mẹ tối cao từ 750 triệu euro trở lên trong ít nhất 2 năm của 4 năm liền kề trước đó, cùng các điều kiện và trường hợp loại trừ theo quy định. Việt Nam triển khai chính sách từ năm tài chính 2024 theo Nghị quyết 107/2023/QH15 của Quốc hội.

