Hoàn thiện cơ chế phát triển công nghiệp văn hóa, bảo đảm tính đồng bộ và khả thi
Lần đầu tiên được nghiên cứu xây dựng thành một đạo luật riêng, chính sách phát triển công nghiệp văn hóa tại Việt Nam đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu, hoàn thiện, từ đào tạo nguồn nhân lực, khai thác giá trị tài sản trí tuệ đến huy động nguồn lực và bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật. Những vấn đề này đang được các đại biểu Quốc hội quan tâm, góp ý nhằm tạo lập khung pháp lý phù hợp với đặc thù của các ngành công nghiệp văn hóa.
Như đã đưa tin, cuối tuần trước, trong chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã họp phiên toàn thể tại hội trường, nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, đồng thời thảo luận tại tổ về dự án này. Đánh giá cao sự cần thiết ban hành luật và nỗ lực của cơ quan soạn thảo, các đại biểu đồng thời lưu ý đây là lĩnh vực mới, có tính liên ngành cao, liên quan đến nhiều quy định pháp luật hiện hành.
Làm rõ phạm vi điều chỉnh, tháo gỡ vướng mắc về nhân lực
Góp ý về phạm vi điều chỉnh của dự thảo luật, đại biểu Nguyễn Hoàng Trường cho rằng cần phân loại rõ hơn các ngành công nghiệp văn hóa để có cơ sở xây dựng chính sách phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng lĩnh vực. Theo đại biểu, khoản 2 Điều 2 hiện liệt kê các phân ngành nhưng chưa phân định rõ giữa nhóm sáng tạo nội dung như điện ảnh, phần mềm, âm nhạc với nhóm ứng dụng, thực hành và dịch vụ như du lịch văn hóa, ẩm thực, thủ công mỹ nghệ, làng nghề. Sự phân định chưa rõ có thể gây khó khăn cho chính quyền cơ sở trong việc rà soát, thống kê và xác định đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ. Vì vậy, ông đề nghị phân nhóm cụ thể hơn, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết để phù hợp với yêu cầu quản lý và sự phát triển của các ngành trong từng thời kỳ.

Đại biểu quốc hội Nguyễn Thị Thu Dung (đứng) trong phiên thảo luận tổ về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa
Đặc biệt, với chính sách phát triển nguồn nhân lực, 1 trong những vấn đề được các đại biểu quan tâm là cơ chế huy động đội ngũ nghệ sĩ, nghệ nhân có kinh nghiệm thực tiễn tham gia giảng dạy tại các cơ sở đào tạo văn hóa, nghệ thuật. Theo đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung, hiện nay số lượng giảng viên có trình độ tiến sĩ tại các cơ sở giáo dục đại học, trình độ thạc sĩ tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng điều kiện mở ngành đào tạo. Trong khi đó, nhiều Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, nghệ nhân có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp nhưng không có văn bằng học thuật tương ứng.
Theo đại biểu này, dự thảo luật đã quan tâm tháo gỡ khó khăn này bằng việc đề xuất công nhận trình độ tương đương đối với một số đối tượng tham gia giảng dạy. Tuy nhiên, nếu áp dụng cơ chế giảng viên đồng cơ hữu có thể phát sinh vướng mắc với các quy định hiện hành của pháp luật giáo dục về tiêu chuẩn trình độ và điều kiện sử dụng giảng viên. Đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế giảng viên thỉnh giảng, cho phép tính đội ngũ này vào điều kiện mở ngành đào tạo đối với những lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật đặc thù, với hệ số quy đổi phù hợp, thấp hơn giảng viên đồng cơ hữu. Cách làm này sẽ tạo điều kiện phát huy năng lực của những người có kinh nghiệm thực tiễn mà không phải đồng nhất danh hiệu nghệ thuật với trình độ đào tạo.
Cũng liên quan tới vấn đề chính sách nhân lực cho công nghiệp văn hóa chất lượng cao, đại biểu Dương Minh Ánh nhấn mạnh việc thu hút các nghệ sĩ, chuyên gia quốc tế có trình độ cao trong những lĩnh vực như đạo diễn, sản xuất phim, kỹ xảo, công nghệ âm nhạc, giám tuyển nghệ thuật; đồng thời mở rộng các chương trình đào tạo tài năng ở nước ngoài, nhất là những ngành nghề mới mà Việt Nam chưa có điều kiện đào tạo. Để thực hiện, đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế thị thực dài hạn từ 3 đến 5 năm, cùng các quy định thuận lợi hơn về giấy phép lao động cho chuyên gia, nghệ sĩ nước ngoài và nghệ sĩ Việt Nam sinh sống ở nước ngoài tham gia giảng dạy, sáng tạo, chuyển giao công nghệ.
Một hướng chính sách khác được đại biểu này đề cập là thúc đẩy hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực công nghiệp văn hóa. Theo đó, cần khuyến khích doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, tổ chức thực hành và đào tạo theo nhu cầu thực tế; đồng thời nghiên cứu cơ chế cho phép tính các khoản chi tham gia đào tạo vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định. Đại biểu cũng đề nghị ưu tiên đầu tư một số cơ sở đào tạo trọng điểm theo chuẩn quốc tế, trang bị hệ thống sân khấu, phòng thực hành, studio, phần mềm thiết kế và các công cụ công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo, thực tế tăng cường, thay vì đầu tư dàn trải.

Các đại biểu quốc hội Dương Minh Ánh (phải) và Nguyễn Thị Thu Dung trong phiên thảo luận tổ về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa
Bảo đảm tính thống nhất pháp luật
Đáng nói, 1 trong những yêu cầu được các đại biểu quan tâm là bảo đảm sự thống nhất giữa Luật Phát triển công nghiệp văn hóa với các luật chuyên ngành có liên quan. Cụ thể, theo đại biểu Lê Hồng Hà, công nghiệp văn hóa là lĩnh vực liên ngành, trong khi những công cụ chính sách quan trọng về tài chính, thuế, công nghệ, xuất nhập cảnh và nhiều nội dung khác thuộc phạm vi quản lý của các bộ, ngành khác nhau. Nếu thiếu cơ chế điều phối phù hợp, các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp văn hóa có thể bị chia cắt theo ranh giới quản lý. Vì vậy, đại biểu đề nghị quan tâm thiết kế cơ chế phối hợp liên ngành, đồng thời phân định rõ vai trò của Nhà nước và doanh nghiệp trong phát triển công nghiệp văn hóa.
Góp ý về Điều 21 của dự thảo luật, quy định hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa trong các dự án đầu tư, công trình xây dựng, đại biểu Dương Minh Ánh cho rằng cần cân nhắc kỹ phạm vi áp dụng và khả năng thực hiện. Theo đại biểu, việc đưa các sản phẩm nghệ thuật, không gian trưng bày, trình diễn và những yếu tố sáng tạo vào công trình xây dựng là chủ trương có ý nghĩa tích cực, góp phần mở rộng không gian văn hóa và tạo điều kiện để người dân tiếp cận các sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Tuy nhiên, nếu áp dụng bắt buộc đối với các dự án thương mại, nhà chung cư, công trình dịch vụ và công trình hỗn hợp có chức năng ở, quy định này có thể làm tăng tổng mức đầu tư, phát sinh chi phí đối với doanh nghiệp. Những khoản chi đó cuối cùng có thể được tính vào giá bán sản phẩm, khiến người mua nhà hoặc người sử dụng dịch vụ phải gánh chịu. Mặt khác, việc xác định giá trị các tác phẩm nghệ thuật để đưa vào chi phí đầu tư xây dựng cũng là vấn đề phức tạp, bởi giá trị của những sản phẩm này có thể rất khác nhau tùy theo tác giả, chất liệu, quy mô và đặc điểm sáng tạo.
Từ những phân tích trên, đại biểu Dương Minh Ánh đề nghị chỉ áp dụng yêu cầu bắt buộc về phát triển công nghiệp văn hóa đối với các dự án đầu tư, công trình xây dựng công cộng. Với các công trình thương mại, nhà ở, dịch vụ và công trình hỗn hợp có chức năng ở, nên để nhà đầu tư chủ động quyết định trên cơ sở nhu cầu thị trường. Theo đại biểu, doanh nghiệp vẫn có động lực bố trí những tác phẩm nghệ thuật, không gian văn hóa và sản phẩm sáng tạo nếu các yếu tố đó góp phần nâng cao giá trị, sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh của công trình.

Đại biểu quốc hội Lưu Nam Tiến (trái) trong phiên thảo luận tổ về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa
Một nội dung khác được đại biểu Lưu Nam Tiến quan tâm là quy định tại Điều 22 về hạ tầng số văn hóa và Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia. Đại biểu tán thành chủ trương xây dựng, kết nối và chia sẻ dữ liệu nhằm phục vụ quản lý, khai thác và phát huy giá trị tài nguyên văn hóa. Tuy nhiên, việc tổ chức kết nối cần tính đến đặc thù của từng nhóm dữ liệu và yêu cầu bảo vệ thông tin theo pháp luật chuyên ngành. Theo ông, trong lĩnh vực quốc phòng có những dữ liệu về bảo tàng, hiện vật, di tích, hình ảnh và tài liệu lịch sử quân sự có thể được số hóa, khai thác để phục vụ nghiên cứu, giáo dục truyền thống và phát huy giá trị văn hóa. Nhưng cũng có những dữ liệu phải hạn chế tiếp cận hoặc được quản lý theo chế độ đặc thù. Do đó, việc kết nối với Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia không có nghĩa mọi dữ liệu đều được chia sẻ ở cùng một mức độ hoặc cho mọi đối tượng khai thác.
Từ đó, đại biểu này đề nghị bổ sung nguyên tắc việc kết nối, chia sẻ dữ liệu phải tuân thủ pháp luật về dữ liệu, an ninh mạng, bảo vệ bí mật Nhà nước và các quy định có liên quan. Đồng thời, cần xác định rõ phạm vi dữ liệu được cung cấp, chủ thể có thẩm quyền quyết định việc chia sẻ, trách nhiệm của cơ quan quản lý và điều kiện khai thác, sử dụng. Theo ông, quy định này nhằm bảo đảm việc kết nối, chia sẻ dữ liệu được thực hiện đúng thẩm quyền, vừa phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên văn hóa, vừa đáp ứng yêu cầu quốc phòng - an ninh, không tạo thêm những thủ tục hành chính không cần thiết.
Từ tính chất mới, phức tạp và liên ngành của dự án luật, đại biểu Dương Minh Ánh cho rằng cần tiếp tục dành thời gian nghiên cứu, đánh giá đầy đủ tác động của các chính sách, nhất là những quy định liên quan đến nguồn lực ngân sách, điều kiện thực hiện và việc sửa đổi, bổ sung các luật hiện hành. Để bảo đảm chất lượng của đạo luật khi ban hành, đại biểu đề nghị Quốc hội xem xét dự án luật theo lộ trình 3 kỳ họp, trong đó 2 kỳ họp dành cho việc thảo luận, cho ý kiến và kỳ họp thứ ba tiến hành xem xét, thông qua.
Đề xuất cơ chế đồng sở hữu trí tuệ trong đào tạo
Đại biểu Dương Minh Ánh đề xuất cần xây dựng cơ chế xác định quyền đồng sở hữu trí tuệ và phân chia lợi ích đối với những tác phẩm được sáng tạo trong quá trình đào tạo, làm rõ quyền lợi, trách nhiệm của người học, giảng viên và cơ sở giáo dục. Đây là vấn đề cần được quan tâm khi các hoạt động đào tạo ngày càng gắn với nghiên cứu, sáng tạo và phát triển những sản phẩm có khả năng khai thác thương mại.

