Vì sao vị trí việc làm qua 18 năm vẫn chưa đáp ứng yêu cầu?

Sau 18 năm triển khai vị trí việc làm, kết quả vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Vì vậy, chúng ta cần nhìn lại quy định pháp luật, làm rõ nguyên tắc từ "việc tìm người" thay vì từ "người tạo việc".

Vị trí việc làm (VTVL) là một trong số ít chủ đề, một trong số ít chế định pháp lý được đề cập nhiều trong một thời gian dài như vậy ở nước ta.

Lần đầu tiên, VTVL được quy định trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010. Sau đó, Đề án "Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức" được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 1557/QĐ-TTg ngày 18/10/2012 đã xác định một trong các mục tiêu phải đạt là: triển khai việc xác định danh mục VTVL và cơ cấu công chức theo ngạch trong các cơ quan, tổ chức; phấn đấu đến năm 2015 có 70% các cơ quan, tổ chức của Nhà nước từ trung ương đến cấp huyện xây dựng và được phê duyệt danh mục VTVL và cơ cấu công chức theo ngạch.

Tuy nhiên, mục tiêu này đã không thể đạt được. 

Tiếp đến là Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương khóa 12 ngày 21/5/2018 về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp đã chỉ rõ việc xác định VTVL còn chậm, chưa thực sự là cơ sở để xác định biên chế, tuyển dụng, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức và trả lương.

Nguyên tắc của VTVL là phải để việc tìm người chứ không phải từ người tạo ra việc. Ảnh minh họa: TL

Nguyên tắc của VTVL là phải để việc tìm người chứ không phải từ người tạo ra việc. Ảnh minh họa: TL

Tại hội nghị trao đổi kinh nghiệm xây dựng đề án VTVL trong các cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập ngày 8/8/2018, việc xác định VTVL được khẳng định là công việc mới và khó, lần đầu tiên áp dụng ở nước ta, quy định của pháp luật còn chưa rõ, chưa đầy đủ.

Và nhìn một cách tổng thể, đến nay, việc xác định VTVL đối với công chức, viên chức chưa đạt được những yêu cầu đã đặt ra. Tất cả các nội dung quan trọng của VTVL như mô tả công việc, xác định khung năng lực, đặc biệt là các tiêu chí đánh giá mà trên cơ sở đó xác định số biên chế công chức và số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập đều chưa đạt kết quả như mong muốn.

Nghị quyết số 109/2003/QH15 ngày 29/11/2023 của Quốc hội về tiếp tục thực hiện một số nghị quyết của Quốc hội khóa 14 và từ đầu nhiệm kỳ khóa 15 đến hết kỳ họp thứ 4 về giám sát chuyên đề, chất vấn đã xác định sớm hoàn thành có chất lượng việc xây dựng đề án VTVL trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập của bộ, ngành, địa phương; chậm nhất đến quý 2/2024 hoàn thành việc xây dựng đề án VTVL trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước.

Và gần đây nhất, Kết luận số 107-KL/TW ngày 17/10 của Bộ chính trị về hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm trong hệ thống chính trị gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý biên chế cũng chỉ rõ: Thời gian qua, việc xây dựng VTVL trong hệ thống chính trị đã đạt một số kết quả bước đầu… Tuy nhiên, qua nhiều nhiệm kỳ, kết quả chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới, phương pháp chưa thống nhất, dữ liệu còn phân tán, việc quản lý, sử dụng VTVL chưa hiệu quả.

18 năm kể từ khi có Luật Cán bộ, công chức 2008 đến 2026, việc triển khai VTVL chưa đạt được mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn là phải nhận diện được nguyên nhân.

Liệu có phải do công tác chỉ đạo thực hiện, không có sự quyết liệt vào cuộc của các ngành, các cấp? Không phải như vậy, bởi thực tiễn cho thấy đây không phải là nguyên nhân chủ yếu.

Đã đến lúc cần đặt câu hỏi về các quy định của pháp luật liên quan đến VTVL. Nói cách khác thì thể chế về VTVL đã chuẩn chưa? 

Chính ở điểm then chốt này, chúng ta càng thấm thía nhận định của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực, trong đó thể chế là "điểm nghẽn" của "điểm nghẽn".

5 đặc trưng của vị trí việc làm

18 năm qua đã có rất nhiều quy định của pháp luật về VTVL, từ luật do Quốc hội thông qua đến nghị định của Chính phủ và thông tư của các bộ. Có thể nói không thiếu pháp luật mà có lẽ thiếu là thiếu quy định chuẩn, đúng về VTVL.

Vì vậy, đã đến lúc cần phải nhận diện lại VTVL.

Theo kinh nghiệm của các nước triển khai VTVL, hệ thống VTVL có những nét đặc trưng như sau: trong hệ thống VTVL, trọng tâm được đặt vào việc làm. Việc làm tại vị trí đó có những nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể, ai đáp ứng được thì được tuyển vào. Như vậy là từ việc để tìm người chứ không phải từ người tạo ra việc. Đây là điểm khác căn bản của hệ thống VTVL so với hệ thống chức nghiệp.

Hệ thống VTVL đặt trọng tâm vào việc làm nên có câu chuyện phân loại việc làm mà kết quả cuối cùng là ra ngạch (hoặc gọi là bậc) của việc làm. Việc làm thợ mộc có 7 ngạch (bậc), thấp nhất là 1 và cao nhất là 7. Ai đáp ứng được công việc thợ mộc ở ngạch 3 thì được tuyển vào và hưởng lương ngạch 3, và tương tự như vậy là ngạch 6 hoặc 7. Đây chính là câu chuyện trả lương theo VTVL. 

Bên cạnh đó, hệ thống VTVL không có câu chuyện ngạch công chức. Điều này là dễ hiểu vì việc làm được phân loại nên người làm việc tại từng vị trí hưởng lương theo ngạch của việc làm. Trong khi đó, hệ thống chức nghiệp vì đặt trọng tâm vào con người nên có câu chuyện phân loại công chức.

Tiêu chí quan trọng nhất của phân loại công chức trong hệ thống chức nghiệp là trình độ đào tạo: người có bằng cử nhân thì ngạch công chức cao hơn người chỉ có bằng trung cấp…

Trong hệ thống VTVL không có câu chuyện thi nâng ngạch công chức vì bản thân công chức không được phân loại. Trong khi đó, hệ thống chức nghiệp có thi nâng ngạch công chức.

Lương của hệ thống VTVL cũng khác căn bản lương của hệ thống chức nghiệp. Lương của hệ thống VTVL được thiết kế theo ngạch của việc làm từ thấp đến cao nhất. Trong khi đó, lương của hệ thống chức nghiệp được thiết kế chủ yếu theo ngạch công chức từ thấp đến cao nhất.

Từ đó cho thấy để nhận diện và xác định đúng VTVL cần phải có cách tiếp cận mới. Kết luận số 107 của Bộ Chính trị cũng đã chỉ ra những điểm hết sức mới, quan trọng để xây dựng và hoàn thiện hệ thống VTVL trong thời gian tới.

Trước hết là quan điểm và yêu cầu chuyển mạnh từ quản lý theo số lượng người, biên chế, ngạch bậc sang quản trị theo VTVL, năng lực thực thi, kết quả và giá trị đóng góp. Chính tại quan điểm này đã buộc phải cân nhắc, vậy thì VTVL sắp có, sắp được hoàn thiện có còn gắn với ngạch công chức như trước đây?

Tiếp đến là quan điểm được thể hiện rõ trong Kết luận số 107 về "không lấy tổ chức, biên chế, nhân sự, ngạch bậc, tiền lương hiện có làm căn cứ hợp thức hóa hiện trạng". Từ quan điểm này cho thấy vấn đề là toàn bộ câu chuyện ngạch công chức, hệ thống thang bảng lương hiện hành có còn tồn tại, gắn bó mật thiết với hệ thống VTVL sẽ xuất hiện trong thời gian tới?

Và cuối cùng, Kết luận số 107 nhấn mạnh phải "chủ động thiết kế lại vị trí việc làm khi chức năng, nhiệm vụ, phương thức thực hiện thay đổi".

Như vậy, để có được một hệ thống VTVL chuẩn, phù hợp với thực tiễn cần phải có một cách tiếp cận mới và đặc biệt phải căn cứ vào những quan điểm, yêu cầu đã được thể hiện rõ trong kết luận này của Bộ Chính trị.

Tiến sĩ Đinh Duy Hòa

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/vi-sao-vi-tri-viec-lam-qua-18-nam-van-chua-dap-ung-yeu-cau-2568782.html