Ba thập niên giữ lớp, giữ trò ở vùng biên
Suốt hơn 30 năm gắn bó với các điểm trường vùng biên Mường Lát (cũ), Thanh Hóa, nhà giáo Ngô Thị Lan bền bỉ vượt núi, băng đèo để giữ lớp, giữ trò.

Cô Lan chăm chút từng nét chữ cho học trò.
Ở tuổi ngoài 50, trên cương vị Hiệu trưởng Trường Tiểu học Trung Lý 1, bà vẫn âm thầm đứng ở tuyến đầu giáo dục vùng khó, nơi mỗi ngày đến trường của học trò là một hành trình vượt lên thiếu thốn và rào cản.
Đến trường từ 3 giờ sáng
Giữa núi rừng biên giới xứ Thanh mịt mùng sương phủ, hơn 30 năm qua, nhà giáo Ngô Thị Lan bền bỉ vượt hơn 200km đường núi mỗi tuần để đến với học trò. Có những ngày, từ 3 giờ sáng, bà tự lái xe rời trung tâm tỉnh lỵ, men theo những cung đường đèo dốc hiểm trở, mang theo nỗi trăn trở thường trực, đó là làm sao để không một đứa trẻ nào bị bỏ lại phía sau trên hành trình đến với tri thức.
Con đường lên Trung Lý mùa này chìm trong sương mù, những khúc cua tay áo nối tiếp nhau, một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu hun hút. Chỉ một thoáng lơ đãng cũng có thể đối diện hiểm nguy, nhưng bà Lan vẫn đều tay lái, ánh mắt dõi theo từng mét đường. “Miễn là kịp có mặt ở trường đúng giờ chào cờ đầu tuần, tôi mới thấy yên tâm”, bà nói nhẹ nhàng, như đã quen với mọi nhọc nhằn.
Không ít lần, đồng nghiệp và người thân khuyên bà xin chuyển công tác về gần nhà để bớt vất vả. Nhưng bà Lan chỉ cười: “Ở đây quen rồi. Xa trường lại thấy nhớ”. Câu trả lời mộc mạc ấy phần nào lý giải vì sao suốt hơn ba thập kỷ, giữa bao đổi thay của đời sống và ngành Giáo dục, người phụ nữ này vẫn gắn bó bền bỉ với sự nghiệp “gieo chữ” nơi vùng biên.
Năm 1992, khi mới 21 tuổi, nhà giáo Ngô Thị Lan đã xung phong lên công tác tại vùng biên Quan Hóa (cũ). Đến năm 1997, khi huyện Mường Lát được thành lập, bà tiếp tục lựa chọn ở lại, gắn bó với mảnh đất còn nhiều thiếu thốn về điều kiện sống và dạy học, lặng lẽ góp phần giữ con chữ ở lại với học trò vùng cao.

Niềm hạnh phúc của nữ Hiệu trưởng Ngô Thị Lan và học trò của mình.
Những năm đầu công tác, con đường đến trường của giáo viên chủ yếu là những lối mòn men theo triền núi. Muốn tới các điểm trường lẻ, thầy cô phải băng rừng, lội suối, leo dốc cả ngày trời. Chỗ ăn ở chỉ là những căn nhà gỗ tạm bợ, vách thưa, mùa mưa gió lùa lạnh buốt. Học sinh đến lớp không đều, nhiều em nghỉ học theo mùa nương rẫy, có bản cả tuần liền vắng bóng trò.
“Có lúc tôi cũng chạnh lòng khi thấy bạn bè cùng khóa đã ổn định nơi phố thị. Nhưng nhìn lũ trẻ đứng ngóng ngoài cửa lớp, tôi lại nghĩ, nếu mình không ở lại thì các con biết trông vào ai”, bà Lan nhớ lại.
Chính suy nghĩ ấy đã giữ chân người giáo viên trẻ năm nào ở lại với vùng biên. Ngoài giờ lên lớp, bà kiên trì đi từng bản, gõ từng nhà, vận động phụ huynh cho con đến trường. Những ngày mưa dầm, bùn đất bám đến đầu gối, bà khoác áo mưa, đội nón, xắn quần lội bộ vào bản. Với những phụ huynh chưa thực sự hiểu giá trị của việc học, bà nhẫn nại giải thích, nói đi nói lại cho đến khi họ đồng ý cho con trở lại lớp.
Thời gian trôi qua, mái tóc bà đã điểm nhiều sợi bạc, nhưng tác phong làm việc vẫn nhanh nhẹn, quyết liệt. Trên cương vị hiệu trưởng, bà luôn có mặt ở trường sớm nhất, kiểm tra cơ sở vật chất, nắm tình hình sĩ số, dặn dò giáo viên mới lên công tác tại điểm lẻ. Bảy điểm trường rải rác ở các bản xa, chủ yếu là nơi sinh sống của đồng bào Mông, khiến công tác quản lý thêm phần vất vả. “Cứ vài ngày không lên điểm lẻ là tôi không yên tâm, vì ở đó lúc nào cũng có việc cần giải quyết”, bà Lan chia sẻ.

Nữ Hiệu trưởng Trường Tiểu học Trung Lý 1 chăm lo cho học trò của mình.
Nâng bước học trò người Mông
Buổi sáng ở Trường Tiểu học Trung Lý 1 bắt đầu rất sớm. Khi sân trường vừa rộn bước chân học trò, trong căn phòng làm việc nhỏ, Hiệu trưởng Ngô Thị Lan đã rà soát kế hoạch công tác trong ngày. Kết thúc lễ chào cờ đầu tuần, bà lại lên đường tới các điểm trường lẻ như Suối Hộc, Ma Hác, Nà Ón, Pa Búa… Những chuyến đi nối tiếp nhau, hiếm khi có một ngày ngơi nghỉ.
Nhà trường hiện quản lý 7 điểm trường lẻ, phân bố rải rác ở các bản vùng cao, có nơi cách điểm trường chính gần chục cây số đường rừng. Mùa mưa, nhiều đoạn chỉ có thể đi bộ. Học sinh chủ yếu là người Mông, sinh sống trên các triền núi, trong môi trường mà tiếng Việt chưa phải ngôn ngữ giao tiếp thường xuyên, khiến việc học tập gặp không ít trở ngại.
Trong bối cảnh đó, giữ vững sĩ số trở thành nhiệm vụ then chốt. Chỉ cần có thông tin học sinh nghỉ học, bà Lan lập tức tìm hiểu nguyên nhân, trực tiếp vào bản hoặc trao đổi với giáo viên điểm lẻ để nắm cụ thể từng trường hợp.
Theo cô Ông Thị Lan, giáo viên nhà trường, đồng nghiệp nể phục nữ hiệu trưởng không chỉ bởi sự quyết liệt trong công việc, mà còn ở cách làm việc lặng lẽ, bền bỉ. “Cô Lan luôn đến sớm, về muộn, không than phiền. Khi giáo viên nản chí, chính cô là người động viên để chúng tôi tiếp tục bám lớp”, cô Ông Thị Lan chia sẻ.
Ở khu bán trú, em Sùng Thị Si, học sinh lớp 5 người Mông ở bản Ma Hác, vẫn nhớ rõ những lần cô hiệu trưởng vào tận phòng hỏi han từng bữa ăn, giấc ngủ. “Có hôm em ốm, cô vào dặn uống thuốc, chải tóc cho em. Nhà xa nên em ở lại trường, có cô, em yên tâm học”, Si nói.
Không chỉ quan tâm đến học sinh, bà Lan còn chú trọng xây dựng đội ngũ giáo viên. Với những thầy cô trẻ còn nhiều bỡ ngỡ trước điều kiện sinh hoạt khắc nghiệt nơi vùng cao, bà thường xuyên động viên, phân công công việc phù hợp, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm từ chính những năm tháng cắm bản của mình. “Cô Lan hiểu vùng cao từ gốc. Làm việc cùng cô, chúng tôi học được sự bền bỉ và tinh thần trách nhiệm đến cùng với học trò”, cô giáo Ông Thị Lan bày tỏ.

Nhà giáo Ngô Thị Lan trong buổi lễ tổng kết năm học với học sinh khối lớp 5 của trường.
Bền bỉ giữ lớp học giữa đại ngàn
Hơn 30 năm gắn bó với vùng cao, biên giới, nhưng nhịp làm việc của nữ hiệu trưởng vẫn chưa từng chậm lại. Mỗi buổi sáng đứng trong sân trường, nhìn dãy núi còn phủ sương, bà tự nhắc mình phải làm tốt hơn hôm qua. Với học sinh nơi đây, bà hiểu rằng sự kiên trì của người thầy đôi khi còn quan trọng không kém kiến thức.
Điều khiến bà trăn trở nhiều nhất vẫn là chất lượng học tập của học sinh người Mông. Dù đã có những chuyển biến tích cực, rào cản ngôn ngữ vẫn là thách thức thường trực.
Bà thường xuyên trao đổi với giáo viên về phương pháp dạy học phù hợp: Đi chậm, tăng tính trực quan, sử dụng hình ảnh, tổ chức các hoạt động trải nghiệm để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. “Cô Lan luôn nhắc chúng tôi rằng, mỗi chữ học sinh viết được đều là kết quả của rất nhiều cố gắng. Dạy học cho con em đồng bào dân tộc thiểu số thì không thể nóng vội”, cô giáo Ông Thị Lan chia sẻ.
Một nỗi lo khác là tình trạng di cư tự do khiến học sinh nghỉ học giữa chừng. Trong thời gian công tác tại Trường Tiểu học Tam Chung hay Pù Nhi, hễ nghe tin gia đình nào chuẩn bị rời bản, bà Lan lại trực tiếp tìm đến, kiên trì vận động phụ huynh cho con học hết năm học.
Bà hiếm khi nói về những khó khăn của mình, nhưng đồng nghiệp đều biết các chuyến đi liên tục giữa thành phố và vùng biên đã tiêu hao không ít sức lực. Có những ngày, bà chỉ nghỉ ngơi vài tiếng rồi lại lên đường. Khi được hỏi có lúc nào muốn dừng lại, bà chỉ trả lời ngắn gọn: “Mình còn làm được thì phải làm”.
Theo bà Lan, trong bối cảnh ngành Giáo dục đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vai trò của người đứng đầu cơ sở giáo dục càng trở nên rõ nét. Ở những địa bàn còn nhiều khó khăn về kinh tế – xã hội, hiệu trưởng không chỉ là người quản lý chuyên môn, mà còn là cầu nối giữa nhà trường với gia đình và cộng đồng.
Với học sinh người Mông, đến trường đồng nghĩa với việc phải vượt qua rào cản ngôn ngữ, tập quán sinh hoạt và điều kiện sống khắc nghiệt. Trong hành trình ấy, sự bền bỉ của người thầy, người hiệu trưởng giữ vai trò mang tính quyết định. Những việc làm lặng lẽ của bà Lan, từ chỉ đạo chuyên môn đến kiên trì vận động phụ huynh, đã góp phần giữ cho lớp học nơi vùng biên không bị đứt quãng, giúp học trò từng bước bám trường, bám lớp trên con đường tiếp cận tri thức.
Những năm gần đây, Trường Tiểu học Trung Lý 1 giữ vững sĩ số, nền nếp dạy học ổn định, chất lượng giáo dục được nâng lên. Khi được hỏi điều gì khiến bà tự hào nhất sau hơn 30 năm gắn bó với nghề, nữ hiệu trưởng không nói về thành tích hay danh hiệu, mà chỉ nhẹ nhàng: Là khi thấy học trò người Mông tự tin đứng đọc bài, viết được tên mình và ánh mắt sáng lên mỗi khi học điều mới.
Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/ba-thap-nien-giu-lop-giu-tro-o-vung-bien-post764440.html











