Bắc Ninh: Giữ gìn bản sắc để hút khách du lịch
Những câu hát, món ăn, nghề truyền thống hay tập quán lâu đời có thể trở thành nét độc đáo đáng nhớ với du khách qua lời kể hay sự thể hiện của chính người dân địa phương. Ở nhiều điểm đến của Bắc Ninh, nét đặc trưng của cộng đồng dân cư đang được đưa vào khai thác du lịch, vừa giữ nghề, giữ văn hóa, vừa tạo thêm sinh kế cho người dân.
Người dân kể chuyện quê mình
Điểm du lịch cộng đồng bản Ven, xã Xuân Lương đang trở thành điểm đến được nhiều du khách lựa chọn. Từ đầu năm 2026 đến nay, nơi đây đón khoảng 30 nghìn lượt người, tăng khoảng 5% so với cùng kỳ năm trước. Những ngày cuối tuần, dịp lễ, Tết, bản làng thêm rộn ràng bởi các đoàn khách tìm đến tham quan, trải nghiệm. Rừng trúc phấn, đồi chè xanh, những ngôi nhà sàn và không gian gần gũi thiên nhiên tạo nên sức hút cho bản Ven.

Đồng bào Cao Lan ở bản Ven (xã Xuân Lương) làm bánh truyền thống.
Tuy nhiên, điều khiến du khách muốn khám phá nơi đây không chỉ là cảnh sắc mà còn là cuộc sống của cộng đồng người Cao Lan. Bản có 150 hộ, hơn 90% dân số là người Cao Lan. Những phong tục tập quán từ trang phục, tiếng hát đến nếp sinh hoạt truyền thống vẫn hiện diện trong đời sống và được người dân giới thiệu tới du khách qua những hoạt động cụ thể. Tại đây, du khách được cắm trại giữa rừng trúc, thưởng trà, khám phá nông trại, mặc trang phục truyền thống, thưởng thức các món ăn của đồng bào Cao Lan và nghe hát sình ca.
"Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về vai trò của du lịch để mỗi người dân là một hướng dẫn viên du lịch, người dân không chỉ tham gia cung cấp dịch vụ mà còn là chủ thể sáng tạo ra sản phẩm du lịch, trực tiếp giới thiệu truyền thống văn hóa, di sản, sản vật của đồng quê Kinh Bắc. Khi được tham gia và hưởng lợi từ du lịch, bà con sẽ có thêm động lực giữ gìn bản sắc, gìn giữ văn hóa quê hương" - Ông Nguyễn Đắc Hồng, Trưởng Phòng Quản lý du lịch (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch).
Tại Xuân Lương, Câu lạc bộ Hát - Múa dân tộc Cao Lan được thành lập hơn 5 năm nay, với khoảng 30 thành viên ở nhiều độ tuổi. Các thành viên thường xuyên biểu diễn phục vụ du khách, qua đó giới thiệu, quảng bá những làn điệu sình ca và nét văn hóa của người Cao Lan. Giữa không gian bản làng, tiếng sình ca cất lên mộc mạc, da diết, đưa di sản văn hóa vốn gắn với sinh hoạt cộng đồng của đồng bào dân tộc đến gần hơn với du khách. Cùng với tiếng hát là ẩm thực mang hương vị riêng như xôi ngũ sắc, xôi trứng kiến, thịt lợn hầm lá rừng, măng đắng, ốc khe, lợn quay lá móc mật…
Theo ông Bùi Xuân Tuyển, Giám đốc Công ty cổ phần Phát triển du lịch cộng đồng Bản Ven Xanh, người dân địa phương trực tiếp tham gia biểu diễn, giới thiệu văn hóa, chế biến món ăn, làm bánh, hướng dẫn du khách hái chè. Họ là một phần quan trọng của sản phẩm du lịch bản Ven.
Ở bản Mậu, xã Tây Yên Tử, những giá trị văn hóa của người Dao được đưa vào du lịch qua những đường thêu, may trang phục, cây thuốc đến món ăn truyền thống. Hợp tác xã Du lịch cộng đồng người Dao bản Mậu hiện có 9 thành viên chính thức và gần 100 thành viên liên kết. Từ những giá trị sẵn có, Hợp tác xã thiết kế các dịch vụ để du khách trải nghiệm như: Thêu thổ cẩm, mặc trang phục truyền thống, thưởng thức ẩm thực, tắm lá thuốc, xông hơi và tìm hiểu sinh hoạt văn hóa của người Dao. Theo bà Triệu Thị Hoa, Giám đốc Hợp tác xã, trước đây, nghề thêu, thuốc tắm lá hay những món ăn truyền thống chủ yếu phục vụ sinh hoạt hằng ngày. Khi làm du lịch, người dân nhận ra những điều giản dị ấy lại thu hút du khách khám phá. Từ đó, mỗi gia đình càng có ý thức gìn giữ nghề truyền thống, tiếng nói, trang phục và phong tục của dân tộc mình.
Tạo sinh kế cho người dân
Điểm chung ở bản Ven, bản Mậu cũng như nhiều khu, điểm du lịch sinh thái, cộng đồng trên địa bàn thành phố là người dân trực tiếp tham gia hoạt động du lịch. Nhờ đó, người biết hát có không gian biểu diễn; người biết nghề có thể giới thiệu và bán sản phẩm; người am hiểu cây thuốc, ẩm thực, phong tục có dịp chia sẻ kiến thức với du khách. Những điều vốn thuộc về đời sống thường ngày có thêm giá trị khi được kết nối với nhu cầu của du khách. Tại bản Mậu, khoảng 80% phụ nữ biết thêu trang phục truyền thống. Cùng với trình diễn cho du khách khám phá nghề thêu, nhiều người vừa may trang phục cho gia đình, vừa nhận đơn đặt hàng để tăng thu nhập.

Người dân làng gốm Phù Lãng hướng dẫn du khách nặn gốm.
Không chỉ văn hóa, nông nghiệp cũng đang được đưa vào các sản phẩm du lịch. Tại điểm du lịch sinh thái Bầu Tiên, xã Kiên Lao, không gian hồ nước, bãi cỏ, bến thuyền được kết nối với những vườn cam, bưởi, vải thiều và sản vật địa phương. Du khách tham quan vườn đồi, thưởng thức trái cây theo mùa, mua đặc sản và đặc biệt vào mùa vải thiều, du khách còn được tự tay hái, bó, đóng gói, tìm hiểu các sản phẩm chế biến từ quả vải và nghe hát then - đàn tính.
Ở Trung tâm Bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ, phường Thuận Thành, du khách nghe nghệ nhân kể chuyện lịch sử nghề, tìm hiểu nguyên liệu, kỹ thuật làm tranh, xem khắc mộc bản và tự tay in tranh. Tại làng gốm Phù Lãng, phường Phù Lãng, du khách cũng có thể tìm hiểu quy trình làm gốm, trực tiếp thực hiện các công đoạn và khám phá sản phẩm của làng nghề. Từ đó, nghề truyền thống có thêm cơ hội tiếp cận khách hàng, du khách có thêm một trải nghiệm gắn với câu chuyện của vùng đất, con người nơi đây.
Những mô hình này cho thấy sức hấp dẫn của du lịch cộng đồng có thể đến từ làn điệu dân ca, món ăn độc đáo, sản phẩm thủ công hay một khu vườn đồi. Theo ông Nguyễn Đắc Hồng, Trưởng Phòng Quản lý du lịch (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch), chúng ta cần có cơ chế chính sách đặc thù hỗ trợ cho các khu, điểm du lịch đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về vai trò của du lịch để mỗi người dân là một hướng dẫn viên du lịch, người dân không chỉ tham gia cung cấp dịch vụ mà còn là chủ thể sáng tạo ra sản phẩm du lịch, trực tiếp giới thiệu truyền thống văn hóa, di sản, sản vật của đồng quê Kinh Bắc. Khi được tham gia và hưởng lợi từ du lịch, bà con sẽ có thêm động lực giữ gìn bản sắc, gìn giữ văn hóa quê hương.

