Bắc Ninh: Mở hướng phát triển công nghiệp văn hóa
Từ kho tàng di sản phong phú, làng nghề thủ công đa dạng cùng giá trị văn hóa đặc sắc, Bắc Ninh đang từng bước chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế. Việc xác định 6 ngành công nghiệp văn hóa mũi nhọn và dành tối thiểu 4% ngân sách chi thường xuyên cho văn hóa đang tạo nền tảng đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của tỉnh.
Nhận diện ngành mũi nhọn
Trong 12 ngành công nghiệp văn hóa, Bắc Ninh xác định 6 ngành trọng điểm để ưu tiên phát triển gồm: Du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, quảng cáo, phần mềm và trò chơi giải trí, điện ảnh. Sự lựa chọn này dựa trên lợi thế về hệ thống di sản phong phú, làng nghề đa dạng cùng hơn 40 khu, điểm du lịch văn hóa, tâm linh, sinh thái tiêu biểu, tạo nguồn lực để phát triển du lịch văn hóa, công nghiệp sáng tạo, kinh tế ban đêm và các dịch vụ văn hóa chất lượng cao.

Diễn xướng dân ca quan họ Bắc Ninh trên thuyền là một trong những sản phẩm văn hóa đặc thù của tỉnh.
Du lịch văn hóa được xác định là ngành mũi nhọn, giữ vai trò dẫn dắt và tạo thị trường cho các ngành công nghiệp văn hóa còn lại. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Bắc Ninh đón khoảng 4,17 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt 3.800 tỷ đồng; khách văn hóa - tâm linh chiếm khoảng 80%. Tuy nhiên, lượng khách lớn chưa đồng nghĩa với giá trị kinh tế tương xứng. Sản phẩm còn thiếu khác biệt, dịch vụ giá trị gia tăng cao chưa nhiều, thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách còn thấp; hạ tầng, nhân lực, xúc tiến và chuyển đổi số chưa đáp ứng yêu cầu.
Bởi vậy, bài toán đặt ra không chỉ là đưa khách đến Bắc Ninh, mà phải khiến họ ở lại lâu hơn, trải nghiệm sâu hơn và chi tiêu nhiều hơn. Muốn vậy, di sản, lễ hội, di tích, làng nghề, ẩm thực, nghệ thuật biểu diễn và không gian sáng tạo cần được kết nối thành chuỗi sản phẩm thay vì những điểm đến riêng lẻ.
Sau gần một năm vận hành chuyến tàu du lịch Hà Nội 5 cửa ô đưa khách về Bắc Ninh, ông Tào Đức Hiệp, Giám đốc Công ty cổ phần Du lịch dịch vụ Thương mại BHL cho rằng, du khách ngày nay không chỉ tìm kiếm điểm check-in mà muốn được chạm vào bản sắc, nghe những câu chuyện thật, gặp con người thật và có những trải nghiệm sâu sắc. Ông Hiệp nhấn mạnh: "Bắc Ninh không thiếu tài nguyên du lịch, nhưng cần nhất là gia tăng giá trị trải nghiệm để biến tài nguyên thành sản phẩm có giá trị kinh tế trong bối cảnh nhu cầu khách ngày càng thay đổi".
Tương tự, lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn của Bắc Ninh cũng giàu tiềm năng nhưng thiếu sản phẩm đáp ứng thị trường. Bắc Ninh sở hữu dân ca quan họ - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, cùng ca trù, chèo, tuồng, hát văn, hát then, múa rối nước và hàng nghìn câu lạc bộ, tổ, đội, nhóm văn nghệ phong phú. Tuy nhiên, hoạt động biểu diễn vẫn chủ yếu phục vụ nhiệm vụ chính trị, lễ hội, trong khi các chương trình biểu diễn mang tính thương mại phục vụ khách du lịch và những sản phẩm có khả năng bán vé còn rất hạn chế.
Có thể thấy, Bắc Ninh không thiếu "chất liệu" để phát triển công nghiệp văn hóa, điều còn thiếu là cách tổ chức, sáng tạo và chuyển hóa chất liệu ấy thành những sản phẩm có giá trị gia tăng, đủ sức tạo thị trường và doanh thu.
Động lực tăng trưởng mới
Theo các chuyên gia, tài nguyên văn hóa không tự thân trở thành công nghiệp văn hóa. Chỉ khi di sản, nghệ thuật, làng nghề được sáng tạo, được ứng dụng công nghệ và trở thành các sản phẩm, tổ chức thành dịch vụ để đưa ra thị trường và tạo doanh thu thì khi đó công nghiệp văn hóa mới phát triển. Để làm được điều đó, Bắc Ninh phải đồng thời giải quyết ba bài toán là: Hình thành được đội ngũ sáng tạo, xây dựng được sản phẩm văn hóa chất lượng và tạo được thị trường. Trong đó, nguồn nhân lực sáng tạo sẽ quyết định chất lượng sản phẩm; doanh nghiệp giữ vai trò tổ chức sản xuất, đưa sản phẩm đến thị trường, còn Nhà nước kiến tạo hành lang chính sách, hạ tầng và tạo môi trường thuận lợi cho văn hóa phát triển.
Tài nguyên văn hóa không tự thân trở thành công nghiệp văn hóa. Chỉ khi di sản, nghệ thuật, làng nghề được sáng tạo, được ứng dụng công nghệ và trở thành các sản phẩm, tổ chức thành dịch vụ để đưa ra thị trường và tạo doanh thu, khi đó công nghiệp văn hóa mới phát triển.
Theo Nghị quyết 77 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về xây dựng văn hóa, con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, Bắc Ninh xác định dành tối thiểu 4% tổng chi ngân sách thường xuyên cho sự nghiệp văn hóa, cao gấp 2 lần mức bình quân cả nước. Song tỉnh cũng đặt mục tiêu phấn đấu doanh thu của các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí đóng góp từ 3% đến 5% GRDP vào năm 2030.
Tỉnh xác định rõ định hướng đưa văn hóa trở thành một động lực phát triển mới. Để cụ thể hóa định hướng này, mới đây, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xây dựng kịch bản tăng trưởng các ngành công nghiệp văn hóa giai đoạn 2026-2030. Theo đó, năm 2026, tốc độ tăng trưởng các ngành công nghiệp văn hóa phấn đấu đạt 13-15%, đóng góp khoảng 3-5% GRDP. Giai đoạn 2027-2030, tốc độ tăng trưởng bình quân dự kiến đạt 12-15%/năm, đưa mức đóng góp của công nghiệp văn hóa lên 5-8% GRDP vào năm 2030.
Để thực hiện mục tiêu trên, nhiều nhóm giải pháp cũng được đề xuất như: Đẩy mạnh truyền thông; rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách; phát triển hạ tầng văn hóa và hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tăng cường giao lưu, hợp tác và trao đổi văn hóa với các địa phương, tổ chức và đối tác quốc tế...
Ông Trịnh Hữu Hùng, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cho biết: Là đơn vị chủ trì tham mưu xây dựng kịch bản tăng trưởng các ngành công nghiệp văn hóa giai đoạn 2026-2030, thời gian tới Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tập trung tham mưu xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, chương trình, đề án phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; đồng thời tích cực phối hợp với các sở, ngành, địa phương đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, thu hút đầu tư, phát triển thị trường, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp văn hóa.
Việc nhận diện đúng tiềm năng, xây dựng kịch bản tăng trưởng và bố trí nguồn lực đầu tư để hình thành các sản phẩm có khả năng cạnh tranh cho thấy Bắc Ninh đang từng bước nỗ lực chuyển hóa tài nguyên văn hóa giàu tiềm năng thành nguồn lực kinh tế, tạo nền tảng để đưa công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng mới của tỉnh.

