Bác sĩ quân y 82 tuổi 'đọc' từng mảnh hài cốt ở công viên Lê Thị Riêng

Trở về từ cõi chết sau trận đánh năm 1968, bác sĩ Trần Văn Bản mang theo lời hứa với những đồng đội đã ngã xuống. Ông đang giúp sức quy tập hài cốt ở công viên Lê Thị Riêng.

Trở về từ cõi chết, bác sĩ quân y 50 năm đi tìm đồng đội Dằn vặt trước ánh mắt của những người mẹ liệt sĩ ngóng con ở quê nhà, bác sĩ quân y Trần Văn Bản gần 50 năm miệt mài đi tìm đồng đội.

"Sờ trơn tay là đất, còn nham nhám thì là xương. Nhớ cho kỹ!"

Bác sĩ Trần Văn Bản (82 tuổi, quê Hải Phòng), cựu chiến binh Tiểu đoàn 342, Trung đoàn 42, Bộ Tư lệnh 350, vừa nói, đầu ngón tay miết nhẹ nắm đất nhỏ mới được chuyển từ rãnh mộ sâu khoảng 2 m, phía sau Nhà Truyền thống tại Công viên Văn hóa Lê Thị Riêng (phường Hòa Hưng, TP.HCM), vào phòng lấy mẫu cách đó chừng 50 m.

Dưới ánh đèn halogen công suất lớn, ba chiến sĩ trẻ Đội Quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Tư lệnh TP.HCM đứng quanh chiếc bàn inox, chăm chú quan sát từng cử động của vị bác sĩ. Xúc giác nhạy bén của người lính quân y được mài giũa qua 48 năm miệt mài tìm danh tính đồng đội khiến cả phòng lặng thinh.

Trong căn phòng thoang thoảng mùi thảo mộc, ông Bản là người đầu tiên tiếp xúc với những bộ hài cốt được đưa lên khỏi lòng đất. Từ đầu tháng 6, hay tin Bộ Tư lệnh TP.HCM triển khai khảo sát đào tìm hài cốt tại công viên, ông chủ động xin phép đơn vị chuyên trách tham gia.

Được sự chấp thuận của Thiếu tướng Nguyễn Thành Trung, Chính ủy Bộ Tư lệnh TP.HCM, bác sĩ quân y Trần Văn Bản bắt đầu vai trò tình nguyện viên hỗ trợ quy trình phân loại và lấy mẫu hài cốt để giám định ADN tại công viên Lê Thị Riêng từ ngày 23/6.

Bằng chuyên môn và kinh nghiệm của mình, ông góp sức với lực lượng quy tập, mong sớm trả lại danh tính cho các liệt sĩ và đồng bào nằm lại nơi đây gần sáu thập kỷ.

Tình nguyện viên đặc biệt

6h sáng, căn nhà nhỏ trên đường Trần Hưng Đạo, phường Tân Sơn Nhì, đã mở rộng cửa. Bác sĩ Trần Văn Bản mặc chiếc áo sơ mi ngắn tay màu nhạt, đội chiếc mũ bảo hiểm đã sờn vải rồi dắt chiếc xe tay ga ra khỏi sân.

Chiếc xe lăn bánh, hòa vào dòng người đang hối hả bắt đầu một ngày mới. Nhà ông Bản cách công viên Lê Thị Riêng khoảng 5 km. 82 tuổi, ông vẫn tự lái xe. Đến cổng công viên, ông dựng xe gọn vào góc quen thuộc, chỉnh lại quai mũ rồi bước nhanh về phía khu vực lấy mẫu, vừa kịp lúc làm việc của các chiến sĩ Đội K. Sự xuất hiện của vị bác sĩ gần như trở thành một phần của guồng quay công việc.

Ông Bản không có tên trong danh sách biên chế của lực lượng quy tập. Ông đến với tư cách tình nguyện viên đặc biệt. Không ai phân công ông phải có mặt từ sáng đến chiều. Cũng không có quy định nào yêu cầu ông đứng hàng giờ trong căn phòng lấy mẫu. Nhưng hầu như ngày nào, ông cũng có mặt tại hiện trường từ sớm.

 Bác sĩ Trần Văn Bản hỗ trợ phân loại, sắp xếp hài cốt ở công viên Lê Thị Riêng. Ảnh: Duy Hiệu.

Bác sĩ Trần Văn Bản hỗ trợ phân loại, sắp xếp hài cốt ở công viên Lê Thị Riêng. Ảnh: Duy Hiệu.

Chỉ ít phút sau, căn phòng lấy mẫu gần hố khai quật bắt đầu sáng đèn.

Căn phòng chỉ rộng vài chục mét vuông. Mùi đất ẩm bám theo từng đôi ủng của lực lượng quy tập bước vào. Bác sĩ Bản kéo nhẹ đôi găng tay y tế rồi tiến lại chiếc bàn inox, nơi các khay nhựa đỏ lần lượt được chuyển đến. Mỗi khay là một phần hài cốt vừa được đưa lên khỏi lòng đất.

Người đàn ông tóc bạc gần như không có lúc nào ngơi tay. Ông cúi người rất thấp. Đôi bàn tay lần lượt nhấc từng mảnh xương lên quan sát, phủi lớp đất còn bám trong các hốc xương rồi đặt về đúng vị trí giải phẫu. Mỗi động tác đều chậm rãi, tỉ mỉ.

"Xương chậu", ông đặt một mảnh xương sang bên trái.

"Xương đùi", một mảnh khác được xếp ngay ngắn phía dưới.

"Đây là xương cánh tay", từng phần xương dần trở về đúng vị trí vốn có trên cơ thể người. Một chiến sĩ trẻ cầm nhầm chiều của xương đùi. Ông nhẹ nhàng xoay lại. "Đặt thế này", ông nói, giọng không quở trách. Ít phút sau, đến lượt một chiếc răng nhỏ lẫn trong đất được tìm thấy. Ông cầm lên, lau sạch bằng gạc rồi đặt vào chiếc khay riêng. "Giữ lại", ông nói khẽ.

Có những chiếc răng sẽ được lựa chọn để lấy mẫu ADN. Có những đoạn xương đặc như xương đùi hay xương cánh tay cũng được ưu tiên vì khả năng bảo tồn vật liệu di truyền. Trước khi chuyển sang đội pháp y, mọi thứ được ông Bản sắp xếp đúng trình tự.

Tuổi ngoài 80, ông vẫn cặm cụi làm việc suốt nhiều giờ liền. Ông gần như không ngồi, có lúc đứng liên tục bên chiếc bàn inox, lúc lại bước nhanh sang khay bên cạnh để kiểm tra một bộ hài cốt mới được chuyển vào.

Lòng mong mỏi tìm lại đồng đội, ông Bản xin phép Bộ Tư lệnh TP.HCM được tình nguyện hỗ trợ tại công viên Lê Thị Riêng. Ảnh: Duy Hiệu.

Lòng mong mỏi tìm lại đồng đội, ông Bản xin phép Bộ Tư lệnh TP.HCM được tình nguyện hỗ trợ tại công viên Lê Thị Riêng. Ảnh: Duy Hiệu.

Không ít cán bộ trẻ ở hiện trường gọi vui bác sĩ Bản là "máy đọc cơ thể người". Nghe vậy, ông chỉ cười.

"Tôi đã đi tìm hài cốt đồng đội trên khắp đất nước hơn 40 năm rồi. Mấy việc này (ý chỉ phân loại và sắp xếp xương - PV) tôi thuộc nằm lòng", ông nói.

Trong nhiều ngày ở công viên Lê Thị Riêng, một lần đôi tay bác sĩ Trần Văn Bản khựng lại lâu hơn thường lệ. Khi lực lượng quy tập chuyển vào phòng lấy mẫu một bộ hài cốt cùng chiếc ví da đã sẫm màu theo thời gian. Bên trong vẫn còn một mẩu giấy gấp nhiều lớp.

Ông không mở ngay. Ông yêu cầu mọi người chuẩn bị máy ảnh. Khi mọi thứ sẵn sàng, ông mới cẩn thận tách từng nếp gấp. Trên nền giấy đã úa vàng, những dòng chữ viết tay vẫn còn hiện rõ. Có cả họ tên: Huỳnh Văn Quên.

Căn phòng bỗng lặng đi. Ông chỉ nhìn rồi lên tiếng nhắc cán bộ phụ trách đứng cạnh: "Chụp xong rồi đóng lại ngay".

Theo kinh nghiệm của người đã hàng chục năm xử lý di vật liệt sĩ, tờ giấy nằm kín trong chiếc ví da nhiều năm dưới lòng đất vẫn giữ được trạng thái ổn định. Khi tiếp xúc với không khí và ánh sáng, phần mực đã ngấm nước suốt hàng chục năm có thể phai rất nhanh, thậm chí mất hẳn chỉ sau một thời gian ngắn.

"Điều quan trọng nhất lúc ấy là ghi nhận thông tin càng nhanh càng tốt, sau đó hạn chế để hiện vật tiếp xúc với môi trường bên ngoài", ông nhớ lại.

Ngay sau đó, ông đề nghị chuyển chiếc ví cùng tờ lý lịch đến đơn vị chuyên môn để bảo quản, lưu trữ theo đúng quy trình. Đó là một trong số ít lần ông để lộ cảm xúc rõ ràng trong phòng lấy mẫu.

Gần nửa thế kỷ đi tìm đồng đội, bác sĩ Bản từng cầm trên tay không ít di vật, từ chiếc lược của nữ y tá, dép cao su, tăng võng, bi đông nước đến những mảnh giấy đã nhòe chữ. Thế nhưng, mỗi lần một bộ hài cốt được đưa lên khỏi lòng đất, đôi bàn tay đeo găng của ông vẫn khẽ run trước khi bắt đầu sắp lại từng mảnh xương.

"Làm nhiều đến đâu thì đó vẫn là đồng đội của mình. Không thể quen được. Chỉ là học cách nén cảm xúc để làm đúng từng thao tác, bởi phía sau mỗi bộ hài cốt là một gia đình đã chờ đợi quá lâu", ông bồi hồi.

19 năm không có Tết

Sau năm 1975, bác sĩ Trần Văn Bản trở về công tác tại Ban Quân y Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Trong quá trình thống kê thương binh, bệnh binh và liệt sĩ, ông nhận ra những tài liệu mình đang lưu giữ có thể trở thành đầu mối để tìm lại nơi an nghỉ của nhiều đồng đội.

Tháng 3/1979, ông bắt đầu chuyến tìm kiếm đầu tiên.

Rồi sau đó, cứ mùng Một Tết, khi khắp xóm còn vương mùi nhang mới và tiếng chúc Tết đầu xuân, bác sĩ Bản đã khoác ba lô rời nhà.

Chiếc xe máy chở ông hướng về những cánh rừng, bờ kênh hay cánh đồng từng là chiến trường năm xưa. Trên xe chỉ có vài chai nước, ít lương khô, chiếc cuốc, cây xẻng và những tấm sơ đồ vẽ tay được gấp cẩn thận.

Ngày lễ, Tết với nhiều người là dịp nghỉ ngơi. Với ông, đó lại là thời điểm thuận lợi nhất để đi tìm đồng đội. Suốt 19 năm, từ 1978 đến 1997, cuộc sống của người cựu quân y gần như không có khái niệm nghỉ lễ. Cứ cơ quan được nghỉ là ông lại lên đường.

"Đồng đội còn nằm ngoài đó, không có lý gì mình ngồi đây ăn Tết cho yên", ông từng nói với người thân như vậy mỗi khi được hỏi vì sao năm nào cũng vắng nhà vào những ngày đoàn viên.

Gần 50 năm đi tìm đồng đội, bác sĩ Bản đều cẩn thận ghi chép lại các mốc thời gian, địa điểm và vị trí tìm được hài cốt. Ảnh: Duy Hiệu.

Ý niệm khắc khoải ấy chưa từng rời bỏ ông Bản suốt gần 20 năm trời. Có những hành trình chỉ vỏn vẹn vài ba đồng đội. Lại có những chuyến đi, ông độc hành. Những năm ấy, chưa có radar xuyên đất, thiết bị định vị hay công nghệ địa vật lý để khoanh vùng như bây giờ. Bản đồ duy nhất của bác sĩ Trần Văn Bản là ký ức.

Ban ngày, ông kiên trì bắt chuyện với người dân, dò dẫm lại từng thảm thực vật, từng nếp đất. Khi màn đêm buông xuống, ông mới lặng lẽ trở lại mảnh đất nghi vấn. Giữa khoảng không từng bị xới tung bởi đạn bom, ông đứng đó rất lâu, khép mi mắt lại.

Cảnh khói lửa hào hùng và tàn khốc của hơn nửa thế kỷ trước hiện lên. Phần còn lại là thực tại: lối đất xưa nay đã trải nhựa phẳng lì, rặng tre làng thay bằng những nếp nhà ngói mới, và cánh đồng từng mịt mù đạn bọt nay hóa khu công nghiệp rộn rã. Cảnh vật có thay đổi, ký ức về chiến trường trong ông vẫn nguyên vẹn như vừa mới hôm qua.

"Trong đầu tôi lúc nào cũng có hai thước phim chạy song song, quá khứ và hiện tại", ông nghẹn ngào.

Ông Bản nhớ rõ từng ụ súng, từng hố bom. Ông nhớ như in ai là người đã ngã xuống trước, ai là người trút hơi thở sau cùng. Ông hồi tưởng hơn chục lần. Từ những vết sẹo ký ức không bao giờ lành, ông tỉ mẩn chắp nối lại thành tọa độ, để đón các đồng đội trở về.

"Tao đưa mày về với mẹ đây"

Tháng 8/1968, sau trận đánh tàn khốc ở bốt Phố Hà Đông, bác sĩ quân y Trần Văn Bản bị thương rất nặng. Giữa làn đạn mịt mù và hoang tàn của chiến trường, đồng đội ngỡ ông đã trút hơi thở cuối cùng nên báo tử về quê.

Ngày từ cõi chết trở về, bước qua bậc ngưỡng cửa nhà, đập vào mắt ông là ảnh của chính mình trên bàn thờ. Giọt nước mắt của ngày đoàn tụ hòa lẫn trong sự nghẹn ngào ngơ ngác. Con trai đứng trước mặt, bà mẹ trở vào thắp 3 nén nhang rồi đến sờ đầu ông. Bà nói: "Tao tưởng mày hiện hồn về".

Tin ông Bản "sống dậy" trở về nhanh chóng lan khắp xóm nhỏ. Mấy người mẹ có con đi chiến trường lật đật chạy sang chung vui, trong lòng khấp khởi hy vọng con mình rồi cũng sẽ bình an như thế.

"Thằng Kiên (liệt sĩ Nguyễn Đình Kiên, hy sinh tháng 3/1979), thằng Hòa (liệt sĩ Nguyễn Bá Hòa, hy sinh ngày 13/6/1968) có về không con?", một bà mẹ hỏi.

Đối diện với những đôi mắt mòn mỏi, đau đớn ngóng trông, cổ họng ông Bản nghẹn đắng. Ông không đủ can đảm để thốt ra sự thật rằng những đứa con của họ, đồng đội của ông đã vĩnh viễn nằm lại nơi mịt mùng đạn bom.

Thời đó, thôn ông ở xã Hùng Tiến, Hải Phòng cũ có 29 người con đi chiến đấu, nhưng khi đất nước thống nhất chỉ có hai người sống sót trở về. Mỗi lần ra chợ hay đi ngang qua đầu ngõ, bắt gặp dáng người hao gầy của mẹ ông Hòa, lòng ông lại thắt lại. Người mẹ ôm lấy ông, giọt nước mắt khô cạn lăn trên gò má nhăn nheo: "Con mẹ chết rồi. Mẹ chỉ muốn nhìn thấy cái xương của nó để nhắm mắt cho yên lòng. Con mẹ không biết nằm ở đâu".

 Ông Bản bật khóc khi nhắc lại hành trình tìm đồng đội Nguyễn Bá Hòa và Nguyễn Đình Kiên.

Ông Bản bật khóc khi nhắc lại hành trình tìm đồng đội Nguyễn Bá Hòa và Nguyễn Đình Kiên.

Lời khóc nghẹn ấy khiến ông Bản dằn vặt, áy náy suốt đời. Lời trêu đùa trước giờ ra trận của đồng đội ở Trường Sơn năm xưa lại dội về xoáy xát: "Nếu hòa bình, ai còn sống phải đưa những người đã ngã xuống trở về quê hương".

Trên hành trình gần 50 năm tìm kiếm đồng đội, ông Bản nhớ nhất là lần ông đón hai người đồng đội xương máu của mình là ông Hòa và ông Kiên. Ba người cùng quê, cùng học một trường, cùng nhập ngũ một ngày vào 25/3/1967, cùng chung một tổ tam tam, và cùng vượt dãy Trường Sơn vào Nam.

Trở về chiến trường cũ tại Trảng Bàng, Tây Ninh, ông tìm thấy hài cốt của ông Hòa. Ông cẩn trọng gột rửa từng vốc đất cát, bọc lại thật gọn gàng rồi nâng niu đặt vào chiếc ba lô con cóc. Suốt 3 ngày 3 đêm trên chuyến tàu Bắc - Nam, ông nhất quyết không gửi ba lô lên giá hành lý. Ông ôm khăng khăng kỷ vật vào lòng, ép sát ngực. Tiếng còi tàu xé dọc đêm thâu, bánh sắt nghiến ken kẹt trên đường ray, còn người bác sĩ quân y cứ ngồi lặng lẽ, thì thầm với chiếc ba lô: "Tao đưa mày về với mẹ đây".

Sau bao năm áy náy mỗi lần đi chợ gặp mẹ ông Hòa, cuối cùng ông cũng đã hoàn thành tâm nguyện, trao trả lại cho người mẹ già đứa con trai mong đợi cả đời.

Sau đó, hành trình lại tiếp tục cho đến ngày ông tìm thấy ông Kiên. Lại một lần nữa chiếc ba lô con cóc cùng ông rong ruổi trên chuyến tàu ngược Bắc, ôm trọn hài cốt của người đồng đội cuối cùng trong tổ tam tam. Ngồi trên tàu, ông mỉm cười nhưng giọt nước mắt lăn dài, thì thầm trong niềm vỡ òa: "Tổ tam tam mình thế là lại đủ ba người rồi Kiên ơi".

Nghiệt ngã thay cho ngày trở về, khi ông ôm hài cốt của Kiên bước chân tới cổng nhà, niềm hân hoan chưa kịp vỡ òa thì chết lặng khi hay tin mẹ ông Kiên đã trút hơi thở cuối cùng trước đó đúng 2 ngày. Bà đã ngóng con suốt mấy mươi năm, nhưng chẳng thể gắng gượng đến lúc được ôm con lần cuối.

Giọt nước mắt của người cựu binh gục xuống trước bàn thờ. Ông đặt gói hài cốt của ông Kiên lên bên cạnh mẹ, nghẹn ngào trong tiếng nấc nghẹn: "Mẹ ơi, con đã giữ trọn lời hứa đưa con trai mẹ trở về".

Em trai liệt sĩ: 'Anh có bạn gái, nhưng chưa một lần dám nắm tay' Ông Hoàng Văn Toan, em trai liệt sĩ Hoàng Văn Phan, kể trước khi ra chiến trường, anh trai ông yêu một người con gái. Dù vậy, ông chưa một lần dám cầm tay vì sợ để lại vấn vương.

Vi Lê - Duy Hiệu - Văn Nguyện

Nguồn Znews: https://znews.vn/bac-si-quan-y-82-tuoi-doc-tung-manh-hai-cot-o-cong-vien-le-thi-rieng-post1670157.html