Bài 1: Bản lĩnh 'giữ lửa' - kỳ tích tự chủ từ một di sản lịch sử
Hơn 40 năm trôi qua, Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt vẫn lặng lẽ vận hành an toàn tuyệt đối trên đỉnh cao nguyên mù sương. Ít ai biết rằng, ẩn sau công trình mang hình hài “vỏ Mỹ, ruột Nga” độc nhất vô nhị trên thế giới này là một cuộc trường chinh bền bỉ của trí tuệ Việt. Nơi đây không chỉ giữ gác cho một công trình khoa học, mà đã trở thành “cái nôi” nuôi dưỡng, bảo tồn và rèn đúc nên nguồn vốn hạt nhân vô giá của quốc gia.

Hơn 40 năm trôi qua, Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt vẫn lặng lẽ vận hành an toàn tuyệt đối trên đỉnh cao nguyên mù sương. Ít ai biết rằng, ẩn sau công trình mang hình hài “vỏ Mỹ, lõi Nga” độc nhất vô nhị trên thế giới này là một cuộc trường chinh bền bỉ của trí tuệ Việt. Nơi đây không chỉ giữ gác cho một công trình khoa học, mà đã trở thành “cái nôi” nuôi dưỡng, bảo tồn và rèn đúc nên nguồn vốn hạt nhân vô giá của quốc gia.

Tổng Bí thư Lê Duẩn thăm Viện NCHN Đà Lạt năm 1984. (Ảnh Viện NCHN)

Đến thời điểm hiện tại, sau 42 năm, Lò phản ứng (LPƯ) hạt nhân Đà Lạt đã và đang vận hành an toàn và khai thác hiệu quả. Là 1 trong 10 người Việt Nam đầu tiên được Liên Xô đào tạo về công nghệ hạt nhân và đã gắn bó trọn vẹn sự nghiệp trong lĩnh vực này hơn 40 năm qua, PGS.TS Nguyễn Nhị Điền, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân (NCHN) Đà Lạt, hiện là Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng khoa học công nghệ của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, nhớ kỹ và hiểu rõ từng bước thăng trầm trong tiến trình khôi phục, mở rộng LPƯ hạt nhân Đà Lạt. PGS.TS Nguyễn Nhị Điền nhấn mạnh, không chỉ tại Việt Nam mà trên phạm vi toàn thế giới, LPƯ hạt nhân Đà Lạt là lò phản ứng duy nhất sở hữu kết cấu độc nhất vô nhị: "vỏ Mỹ - lõi Nga".

Cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong lần tới thăm lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. (Ảnh Viện NCHN)
Lật lại từng trang sử, năm 1963, Mỹ cho xây dựng LPƯ hạt nhân TRIGA Mark-2 với công suất 250 kW tại Đà Lạt - công trình hạt nhân đầu tiên của cả khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, vào tháng 3/1975, ngay trước thời điểm Đà Lạt được giải phóng, người Mỹ đã rút sạch toàn bộ 89 thanh nhiên liệu - vốn được xem là "trái tim" của lò phản ứng - mang về nước, khiến toàn bộ hệ thống rơi vào trạng thái ngưng hoạt động hoàn toàn.

Chuyên gia nước ngoài đóng gói các bình nhiên liệu độ giàu cao vào container để chuẩn bị chuyển trả về Nga. (Ảnh Viện NCHN)
Sau ngày đất nước thống nhất, cuối năm 1975, Liên Xô đồng ý hỗ trợ Việt Nam khôi phục công trình hạt nhân quan trọng này. Cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp giao trọng trách chủ trì công trình khôi phục cho GS.TS Phạm Duy Hiển. Đây là một thách thức khổng lồ đặt ra cho nền khoa học non trẻ của nước nhà, bởi công nghệ lò phản ứng của Liên Xô và Mỹ khác biệt nhau hoàn toàn, khác từ nguyên lý vận hành cơ bản cho đến bản chất vật lý của thanh nhiên liệu.
Từ năm 1982 đến năm 1984, nhờ sự phối hợp chặt chẽ, sáng tạo giữa đội ngũ cán bộ khoa học Việt Nam và các chuyên gia Liên Xô, chúng ta đã khôi phục thành công lò phản ứng với lõi công nghệ IVV-9 của Nga, nâng công suất vận hành từ 250 kW lên 500 kW. Ngày 20/3/1984, lò phản ứng chính thức đi vào hoạt động trở lại, đánh dấu một mốc son chói lọi của nền khoa học kỹ thuật Việt Nam.

Dây chuyền sản xuất dược chất phóng xạ I-131 ở lò phản ứng Đà Lạt. (Ảnh Viện NCHN)
Nhưng điều đáng tự hào hơn cả là đến tháng 2/1985, sau khi 3 chuyên gia cuối cùng của Liên Xô hoàn thành nhiệm vụ và rút về nước, các nhà khoa học thế hệ đầu tiên của Viện NCHN Đà Lạt đã nhanh chóng tiếp cận, làm chủ hoàn toàn kỹ thuật, vận hành an toàn và khai thác vô cùng hiệu quả lò phản ứng. Suốt 40 năm qua, không có bất kỳ một sự cố phóng xạ hay kỹ thuật nào xảy ra.
LPƯ hạt nhân Đà Lạt được Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) và cộng đồng khoa học quốc tế đánh giá là "lò sử dụng hiệu quả nhất trong số các lò có công suất thấp trên thế giới".

Nhắc lại những lần khởi động LPƯ hạt nhân Đà Lạt, vị nguyên Viện trưởng nhớ nhiều nhất tới lần khởi động thứ 3 vào năm 2004. Trước đó, lò Đà Lạt mới chỉ trải qua 2 lần khởi động vật lý: năm 1963 do người Mỹ thực hiện và năm 1983 với sự trợ giúp trực tiếp của các chuyên gia Liên Xô.
Đến năm 1985, 3 chuyên gia Liên Xô cuối cùng về nước, từ đó trở đi chúng ta không mời thêm chuyên gia Liên Xô (sau này là Nga) sang nữa. Bởi vậy, lần khởi động thứ 3 chính là lần đội ngũ kỹ sư trong nước phải đối mặt với muôn vàn thử thách gay go.

Những nhà khoa học trong nước đã vượt qua áp lực, thành công trong việc tự chuyển đổi nhiên liệu từ độ giàu cao (36% U-235) sang độ giàu thấp (19,75% U-235) tại LPƯ hạt nhân Đà Lạt trong giai đoạn 2007-2011. Và lần đầu tiên trên thế giới, nhiên liệu hạt nhân sau chuyển đổi đã được trả về Nga bằng đường hàng không.
Sự kiện này tạo nên một bước tiến mới mang tính lịch sử. Học tập kinh nghiệm từ Việt Nam, sau đó nhiều quốc gia nhập khẩu nhiên liệu của Nga như Hungary, Romania... đã áp dụng thành công cách thức vận chuyển đặc biệt này.

PGS. TS Nguyễn Nhị Điền, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hạt nhân báo cáo với nguyên Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn quá trình lịch sử hoạt động của Viện (ảnh chụp tháng 7/2025)
Sự kiện tái khởi động lò hạt nhân lần đầu tiên được thực hiện thành công hoàn toàn bởi đội ngũ nhà khoa học Việt Nam đã được bình chọn là 1 trong 10 sự kiện khoa học công nghệ tiêu biểu toàn quốc năm 2011. Cho đến hiện tại, việc duy trì hiệu quả hoạt động của LPƯ hạt nhân Đà Lạt hoàn toàn dựa trên trí tuệ Việt Nam.
Từ làm chủ vận hành, Viện NCHN đã tiến bước sang nghiên cứu thiết kế, trong đó tập trung thiết kế cấu hình nhiên liệu - trái tim của LPƯ. Năng lực này được minh chứng qua dự án chuyển đổi nhiên liệu thành công. Cột mốc hơn 70.000 giờ hoạt động an toàn của LPƯ đã chứng minh khả năng làm chủ kỹ thuật tuyệt đối của đội ngũ cán bộ khoa học Viện NCHN.
Trong hơn 4 thập kỷ nghiên cứu, Viện NCHN đã đóng góp khoảng 420 công trình khoa học trên các tạp chí quốc gia và 300 công trình trên các tạp chí quốc tế. Trong lĩnh vực ứng dụng năng lượng nguyên tử vì hòa bình, Viện đã nghiên cứu công nghệ và điều chế các chất đồng vị phóng xạ phục vụ chẩn đoán, điều trị bệnh cho nhân dân, chế tạo thiết bị hạt nhân, phát triển kỹ thuật phân tích, quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường, ứng dụng kỹ thuật đồng vị giải quyết các vấn đề sa bồi, xói mòn, dầu khí, ứng dụng công nghệ bức xạ bảo quản lương thực, chọn tạo giống đột biến và xử lý chất thải phóng xạ.

Đánh giá về hành trình này, GS.TS Trần Hồng Thái, Ủy viên TW Đảng khóa XIV, Phó Chủ tịch Thường trực Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam khẳng định: “Đó chính là biểu tượng của 'vỏ Mỹ, lõi Nga, tinh thần Việt Nam. Chúng ta không thụ động mà tiếp thu, làm chủ và phát triển. Hiện nay, cán bộ Việt Nam đang tiếp tục viết tiếp ước mơ làm chủ công nghệ lò phản ứng module nhỏ (SMR), hướng tới mục tiêu 8 - 10 tổ máy trước năm 2035 và hoàn toàn làm chủ công nghệ vào năm 2040. Đó là minh chứng cho khả năng 'đứng trên vai những người khổng lồ bằng chính đôi chân của mình”.

Trong dòng ký ức về những thăng trầm của ngành hạt nhân, PGS.TS Nguyễn Nhị Điền chia sẻ, từ những năm 1978 - 1979, thông tin về phát triển điện hạt nhân đã được đặt ra và tổ chuyên gia tư vấn cho Chính phủ từng được thành lập. Tuy nhiên, do khó khăn bối cảnh trong nước và quốc tế, câu chuyện điện hạt nhân phải tạm dừng.

Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hạt nhân báo cáo, trao đổi với nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn khi kiểm tra khu vực Lò phản ứng hạt nhân vào tháng 7/2025
Năm 2016, Quốc hội ban hành Nghị quyết dừng dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận. Đây là quyết định đúng đắn của Đảng, Quốc hội và Nhà nước tại thời điểm đó nhằm sử dụng hiệu quả nhất nguồn lực quốc gia. Dù vậy, Việt Nam không hề “đóng băng” mà lặng lẽ duy trì đào tạo, nghiên cứu để bảo toàn nguồn lực.

Công tác diễn tập ứng phó sự cố bức xạ hạt nhân luôn được quan tâm, đảm bảo an toàn
Thực tế đã không “đóng băng”, bởi ngày 30/11/2024, sau gần một thập kỷ tạm dừng, Nghị quyết 174/2024/QH15 được Quốc hội thông qua, chính thức tái khởi động chương trình điện hạt nhân, giúp lĩnh vực này quay trở lại một cách “danh chính ngôn thuận”.
Đặc biệt, ngày 20/8/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết đặt mục tiêu cụ thể: đưa Ninh Thuận 1 và 2 vào vận hành giai đoạn 2030 - 2035, đồng thời mở ra chương trình phát triển điện hạt nhân với quy mô linh hoạt, nghiên cứu lò phản ứng module nhỏ và từng bước làm chủ công nghệ.

Nhiều ứng dụng từ kỹ thuật hạt nhân được triển khai và mang lại hiệu quả trong thực tiễn
Đây là lần đầu tiên Bộ Chính trị đưa nguồn điện hạt nhân vào một Nghị quyết chuyên đề, thể hiện cách tiếp cận rất quyết liệt, cụ thể hóa mục tiêu và cơ chế giải pháp.
Kinh nghiệm 42 năm vận hành an toàn LPƯ Đà Lạt của đội ngũ cán bộ Viện NCHN là yếu tố then chốt giúp Đảng và Nhà nước có niềm tin lớn để hiện thực hóa mục tiêu này. Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ cuối năm 2025 cũng khẳng định Viện có sứ mệnh trở thành trung tâm đào tạo, thực hành quốc gia về năng lượng hạt nhân.

Tỉnh Lâm Đồng tự hào là nơi có Lò phản ứng hạt nhân duy nhất của Việt Nam
TS Cao Đông Vũ, Viện trưởng Viện NCHN khẳng định, việc LPƯ Đà Lạt được IAEA đánh giá cao là điều kiện thuận lợi để cán bộ của Viện sẵn sàng tiếp nhận, vận hành an toàn và khai thác hiệu quả LPƯ mới đa mục tiêu công suất 10 MWt sắp tới tại Thành phố Đồng Nai; đồng thời sẵn sàng tham gia trực tiếp vào Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận đang triển khai. Từng bước đi vững chắc từ quá khứ chính là bệ phóng cho tương lai hạt nhân của đất nước.
(Còn nữa)
Nội dung và ảnh: Ngọc Ngà - Ngọc Diệp
Trình bày: Nguyệt Nga (Bài viết có sử dụng hình ảnh tư liệu)

