Bài 1: Khi hàng nghìn công trình cần một “nhạc trưởng”
Hiện nay, phương thức vận hành hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh đang thiếu thống nhất. Có địa phương giao doanh nghiệp chuyên trách quản lý theo cơ chế đặt hàng dịch vụ công ích; có nơi do UBND cấp xã và các tổ thủy nông thôn, bản quản lý, vận hành. Sự khác biệt này đang phát sinh những bất hợp lý cần phân định rõ trách nhiệm và thiết lập đầu mối điều phối thống nhất để hệ thống thủy lợi hoạt động đồng bộ, ổn định, phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.
Nơi theo mô hình tự quản...
Xã Võ Lao là địa phương có diện tích đất nông nghiệp lớn. Toàn xã có 10 hồ thủy lợi, 44 công trình kênh dẫn, phục vụ tưới tiêu khoảng 1.500 ha đất sản xuất hai vụ. Nhiều công trình đã xây dựng 20 - 30 năm, hiện đã xuống cấp; khoảng 700 ha đất canh tác thường xuyên chịu ngập lụt, kéo theo tình trạng bồi lấp, sạt lở kênh, mương.
Theo bà Hoàng Thị Chiên - Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn Là, thôn có 54 ha đất nông nghiệp có hệ thống kênh mương nội đồng do 3 tổ thủy nông tự quản vận hành. Các tổ vẫn duy trì dẫn và điều hòa nước tưới nội đồng, xử lý những vị trí hỏng nhỏ. Song mấy năm trở lại đây các công trình đầu mối xuống cấp, khiến việc cấp nước thiếu ổn định, sản xuất có lúc vẫn phải trông chờ vào thời tiết.
“Chúng tôi mong Nhà nước tiếp tục kiên cố hóa các tuyến mương đất, sửa chữa các công trình đầu mối xuống cấp và có cơ chế tăng kinh phí để tổ thủy nông tự quản làm tốt hơn công tác bảo vệ, vận hành công trình” - bà Chiên cho biết.

Mô hình UBND xã quản lý công trình thủy lợi, các tổ thủy nông tự quản vận hành hệ thống kênh mương nội đồng có ưu điểm là bám sát đồng ruộng, xử lý nhanh những vị trí hỏng nhỏ. Nhưng trước hạn hán, mưa lũ hoặc hỏng lớn, nguồn lực tại chỗ đã bộc lộ hạn chế.
Ông Nguyễn Anh Đức - Phó Chủ tịch UBND xã Võ Lao cho biết: “Khi mưa lũ làm hỏng công trình thủy lợi lớn, xã phải huy động sức dân sửa chữa tạm thời do thiếu kinh phí thuê máy móc. Nguồn duy tu hằng năm hạn chế, nên khó tổ chức xử lý dứt điểm các hạng mục xuống cấp, ảnh hưởng trực tiếp đến cấp nước sản xuất và làm giảm khả năng chia sẻ nguồn nước tưới liên vùng giữa các cánh đồng lớn”.

Khó khăn tương tự hiện diện tại xã vùng cao Tả Củ Tỷ, nơi địa hình dốc, địa chất thiếu ổn định với 20 công trình và 26 tuyến kênh cần quản lý.
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa - Trưởng phòng Kinh tế xã Tả Củ Tỷ cho biết: “Năm 2024, xã vừa sửa xong 6 công trình thì mưa lớn tiếp tục gây hỏng. Kinh phí duy tu thường xuyên chỉ đủ xử lý những hạng mục nhỏ. Với chừng ấy công trình, nếu cứ giao cấp xã và tổ thủy nông thôn thì rất khó vận hành ổn định lâu dài. Những công trình lớn vượt quá khả năng của địa phương, chúng tôi đề nghị giao cho đơn vị doanh nghiệp có đủ năng quản lý”.
Thực tế tại xã Võ Lao và Tả Củ Tỷ cho thấy mô hình tự quản ở địa phương đang bị giới hạn bởi nguồn lực tài chính và năng lực vận hành, nhất là với công trình thủy lợi đầu mối, công trình có quy mô lớn hoặc thường xuyên chịu tác động thiên tai.
... chỗ do doanh nghiệp vận hành
Mô hình quản lý công trình thủy lợi tập trung do doanh nghiệp chuyên trách đảm nhiệm tại một số địa phương như phường Nam Cường, xã Việt Hồng đang cho thấy hiệu quả vận hành, phát huy rõ thế mạnh và khả năng ứng phó linh hoạt của doanh nghiệp trước công tác duy tu, bảo dưỡng công trình thủy lợi.
Tại xã Việt Hồng, sự kết hợp giữa năng lực quản lý của doanh nghiệp và sự chung tay của cộng đồng đang cho thấy sự vận hành hiệu quả của các công trình thủy lợi. Toàn xã hiện có hơn 300 ha đất nông nghiệp với trên 15 công trình thủy lợi đầu mối.
Việc giao cho doanh nghiệp quản lý các công trình hồ, đập đầu mối và hệ thống kênh, mương cấp 1 là phù hợp. Vì doanh nghiệp có đội ngũ kỹ sư, công nhân được đào tạo bài bản và có thiết bị, máy móc và nguồn lực tài chính, nên khi công trình cần sửa chữa hoặc gặp sự cố là họ có thể triển khai xử lý kịp thời.
Ông Nguyễn Tiến Chiển - Chủ tịch UBND xã Việt Hồng
Trong khi đó, đối với hệ thống kênh mương nội đồng tại 12 thôn của địa phương, UBND xã vẫn duy trì giao cho các tổ thủy nông của từng thôn tự quản vận hành, sửa chữa, bảo trì. Bên cạnh đó, người dân có ruộng ở khu vực nào đều tự giác tham gia nạo vét, khơi thông dòng chảy trước mỗi vụ sản xuất để bảo đảm nguồn nước dẫn về ruộng.

Còn tại phường Nam Cường, nhiều năm nay các hộ dân canh tác trên cánh đồng Tuy Lộc - Xuân Lan (khu vực tổ dân phố số 8) luôn yên tâm với hệ thống tưới tiêu do Cụm trưởng Cụm Thủy nông Tuy Lộc - Xuân Lan vận hành.
Bà Nguyễn Thị Bình ở tổ dân phố số 8 chia sẻ: “Bất kỳ thời điểm nào trong năm, diện tích đất trồng màu và cấy lúa đều có nguồn nước tưới được duy trì ổn định theo đúng khung thời vụ gieo cấy. Bây giờ, việc của nông dân là chỉ tập trung vào trồng cây gì và chăm sóc như thế nào để cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao mà không quá lo lắng về nguồn nước”.
Để vận hành hệ thống thủy lợi trơn tru, các kỹ sư, công nhân phải bám sát đồng ruộng từng ngày, nắm chắc thời tiết để có kế hoạch bơm và phân phối nước ở từng khu vực hợp lý và tiết kiệm.
Ông Nguyễn Tiến Mẫn - Cụm trưởng Cụm Thủy nông Tuy Lộc - Xuân Lan
Theo tìm hiểu, việc giao cho tổ chức, doanh nghiệp chuyên nghiệp có đội ngũ kỹ thuật, có năng lực để quản lý, vận hành các công trình hồ, đập, kênh mương thủy lợi đầu mối đã được các địa phương khác trong cả nước áp dụng từ nhiều năm nay.
Định vị lại vai trò "nhạc trưởng"
Theo kết quả thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh hiện có 5.885 công trình thủy lợi (gồm 37 trạm bơm, 166 hồ chứa nước, 5.682 đập dâng) và 9.547 km kênh, mương dẫn, tưới tiêu cho 90.750,56 ha đất nông nghiệp.
Vấn đề đặt ra là hiện nay trên địa bàn tỉnh, các công trình thủy lợi đang được vận hành theo hai mô hình: Có địa phương thì giao cho doanh nghiệp quản lý, vận hành theo cơ chế hợp đồng đặt hàng dịch vụ; có địa phương lại do UBND xã và các thôn quản lý tự quản.
Qua đó, khiến công tác quản lý, vận hành công trình thủy lợi trong tỉnh đang phát sinh những bất cập, khi thiếu một cơ chế thống nhất về phân cấp, tiêu chuẩn kỹ thuật, trách nhiệm và nguồn lực. Số liệu và hồ sơ quản lý tài sản giữa các vùng cũng thiếu đồng bộ.
Nhằm thiết lập lại cơ chế vận hành, ngày 7/7/2026, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 53/2026/QĐ-UBND (Quyết định 53) có hiệu lực từ 17/7/2026, phân cấp rõ ràng: Tỉnh quản lý công trình phục vụ từ 0,5 ha trở lên; cấp xã quản lý công trình phục vụ dưới 0,5 ha.

Theo một đại diện Phòng Quản lý công trình thủy lợi và Phòng, chống thiên tai (Sở Nông nghiệp và Môi trường), Quyết định 53 của UBND tỉnh đã xác định rõ thẩm quyền: Tỉnh là chủ sở hữu, giao ngành nông nghiệp quản lý Nhà nước và tổ chức đặt hàng dịch vụ công ích. Đơn vị khai thác có thể là doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp hoặc hợp tác xã.
Cách phân cấp này vừa tạo điều kiện chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành, vừa gắn trách nhiệm với quy mô công trình và minh bạch hơn việc sử dụng ngân sách hỗ trợ dịch vụ công ích thủy lợi.

Ông Nguyễn Thái Bình - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, phân cấp mới chỉ là bước khởi đầu. Ngành sẽ tiếp tục rà soát từng công trình, nhất là hồ đập lớn để giao cho đơn vị đủ chuyên môn và tiềm lực quản lý, vận hành.
Theo ông Bình, vấn đề không phải là xóa bỏ mô hình nào, mà là xác lập vai trò điều phối thống nhất. Công trình lớn cần đơn vị chuyên trách quản lý; kênh mương nội đồng vẫn cần sự bám sát, chung tay của người dân.
Quyết định số 53/2026/QĐ-UBND đặt nền tảng cho việc xác lập vai trò “nhạc trưởng” trong quản lý, vận hành hệ thống thủy lợi toàn tỉnh. Tuy nhiên, để chủ trương vào thực tiễn vẫn cần tiếp tục có phương thức quản lý, định mức kỹ thuật phù hợp và phân rõ trách nhiệm của từng cấp bảo đảm vận hành hiệu quả.
Quyết định 53 của UBND tỉnh đã xác định rõ thẩm quyền: tỉnh là chủ sở hữu, giao ngành nông nghiệp quản lý Nhà nước và tổ chức đặt hàng dịch vụ công ích. Đơn vị khai thác có thể là doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp hoặc hợp tác xã. Cách phân cấp này vừa tạo điều kiện chuyên nghiệp hóa quản lý, vận hành, vừa gắn trách nhiệm với quy mô công trình và minh bạch hơn việc sử dụng ngân sách hỗ trợ dịch vụ công ích thủy lợi.
Bài cuối: Không chỉ là phân chia nhiệm vụ
