Bài 2: Nghị quyết mở đường cho khát vọng vươn mình
Bài 1: Hành trình từ cây giảm nghèo đến cây chủ lực
Với mục tiêu đến năm 2030 phát triển 40.000ha mắc ca và hơn 20.000ha cà phê, Nghị quyết số 11-NQ/TU đã mở rộng không gian phát triển hai cây chủ lực tại 45 xã, phường trên địa bàn toàn tỉnh. Tầm nhìn ấy thể hiện quyết tâm đưa nông nghiệp Điện Biên vượt khỏi phương thức sản xuất nhỏ lẻ, hình thành vùng hàng hóa tập trung; gắn trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu với mục tiêu phát triển xanh, thông minh, bền vững.
Mở chặng đường phát triển mới
Bắt đầu từ cây cà phê ở Làng Thanh niên lập nghiệp Ẳng Nưa và vườn mắc ca đầu tiên ở bản Pha Làng với thành quả các gia đình tiên phong đạt được, đã khẳng định khả năng thích nghi và hiệu quả kinh tế của hai loại cây này trên đất Điện Biên. Đây cũng là cơ sở thực tiễn để tỉnh Điện Biên ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 29/7/2021 từng bước mở rộng vùng sản xuất, thúc đẩy liên kết và tạo thêm sinh kế cho người dân. Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết, diện tích mắc ca toàn tỉnh tăng từ 265ha lên hơn 12.360ha (gấp khoảng 46 lần); cà phê tăng từ 3.220ha lên hơn 8.140ha (gấp khoảng 2,5 lần). Không gian phát triển được mở rộng từ vùng trồng truyền thống sang những địa bàn có điều kiện phù hợp, bước đầu hình thành vùng sản xuất tập trung và mô hình trồng xen cà phê, mắc ca.

Thường xuyên đi thăm, kiểm tra địa bàn trồng cà phê, mắc ca, ông Lê Xuân Cảnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Điện Biên nhận thấy nhiều diện tích cây trồng hiệu quả thấp được người dân chủ động chuyển đổi sang trồng cà phê, mắc ca. Mô hình trồng xen bước đầu phát huy lợi thế khi mắc ca tạo bóng che, giữ ẩm, còn cà phê cho thu hoạch sớm, bổ sung thu nhập trong thời gian chờ mắc ca cho quả. Tuy nhiên, vùng trồng tại nhiều địa bàn còn phân tán; giống và kỹ thuật chưa đồng đều; hạ tầng tưới, giao thông nội đồng, sơ chế, bảo quản còn thiếu. Liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa chặt chẽ; phần lớn sản phẩm bán dưới dạng thô nên giá trị gia tăng thấp, nguy cơ “được mùa, mất giá” còn hiện hữu.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lê Xuân Cảnh cho rằng: Để nâng cao giá trị, hiệu quả sản xuất nông nghiệp đòi hỏi Điện Biên phải chuyển từ mở rộng diện tích sang xây dựng ngành hàng, gắn vùng nguyên liệu với chế biến và thị trường. Quy hoạch phải phù hợp với điều kiện từng địa bàn; đồng thời nâng cao vai trò của doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân trong tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và xây dựng thương hiệu.

Trên cơ sở tổng kết Nghị quyết số 09 và cụ thể hóa định hướng phát triển nông nghiệp tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, ngày 31/12/2025, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU về cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng hàng hóa tập trung, xanh, thông minh, bền vững giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035. Nghị quyết số 11 đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành khoảng 70.000ha vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Trong đó có 40.000ha mắc ca, trên 20.000ha cà phê, 3.000ha cây ăn quả (dứa, chanh leo) và 6.500ha rau màu. Điện Biên phấn đấu trở thành tỉnh có diện tích mắc ca lớn nhất cả nước và diện tích cà phê Arabica đứng thứ hai cả nước.
Cùng với việc xác định diện tích, Nghị quyết số 11-NQ/TU cụ thể không gian phát triển các loại cây tại địa bàn 45 xã, phường với khuyến cáo, mở rộng diện tích cây trồng phải dựa trên lợi thế và điều kiện cụ thể của từng địa bàn, tránh chạy theo phong trào. Cấp xã được giao trực tiếp tổ chức triển khai, chịu trách nhiệm rà soát quỹ đất, vận động người dân và kết nối các chủ thể tham gia; kết quả thực hiện gắn với trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu.
Trong phương thức phát triển mới, Điện Biên xác định doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân giữ vai trò chủ thể; Nhà nước kiến tạo, định hướng và hỗ trợ. Liên kết giữa các bên phải được cụ thể hóa bằng vùng nguyên liệu, quy trình kỹ thuật, hợp đồng thu mua và cơ chế chia sẻ lợi ích, rủi ro. Đây là điều kiện quan trọng để khắc phục tình trạng sản xuất tự phát, đứt gãy liên kết hoặc phụ thuộc vào thương lái.
Trong toàn bộ quá trình sản xuất, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được coi là "trụ cột" quan trọng bắt đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng, bản đồ số, nhật ký canh tác và truy xuất nguồn gốc và minh bạch chất lượng sản phẩm. Các tiến bộ kỹ thuật về giống, tưới tiết kiệm, chăm sóc, thu hái và bảo quản được kỳ vọng nâng năng suất, giảm chi phí và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.
Giao chỉ tiêu, rõ trách nhiệm
Triển khai Nghị quyết 11, Chi bộ bản Kép Ly, xã Chiềng Sinh đã thường xuyên tổ chức sinh hoạt chuyên đề về thực hiện Nghị quyết 11, có mở rộng quần chúng để thông tin mục tiêu, cách thức thực hiện. Chi ủy phân công cụ thể từng đảng viên phụ trách cụm gia đình, với yêu cầu mỗi đảng viên phải theo dõi, giúp đỡ 7-8 gia đình trong suốt quá trình. Nhờ vậy, việc trồng, chăm sóc cây được theo dõi sát hơn; một hộ làm tốt trở thành hình ảnh trực quan để các hộ xung quanh quan sát, học hỏi và làm theo.

Ông Lường Văn Mười, Bí thư Chi bộ bản Kép Ly cho biết: Bản Kép Ly có 344 hộ, 1.543 nhân khẩu nhưng đất canh tác ít bởi phần lớn diện tích đã quy hoạch đất rừng. Để lựa chọn được cây trồng tạo giá trị lâu dài, Chi bộ đã nhiều lần họp mở rộng mời các gia đình tham dự cùng nghe chủ trương, Nghị quyết 11 rồi sau đó nhân dân tham gia ý kiến lựa chọn cây trồng. Với sự thống nhất của nhân dân, đảng viên, bản Kép Ly đã hoàn thành trồng 1,7ha cà phê, mắc ca trong năm 2026 nâng tổng diện tích hai loại cây này của cả bản lên 7,1ha.
"Trong suốt quá trình thực hiện, Chi bộ phân công cụ thể các đảng viên: Lường Văn Cơi, Quàng Văn Chinh, Cà Văn Thoan... phụ trách từng cụm hộ; mỗi người theo dõi 7 - 8 hộ ở gần nhà để hướng dẫn cách làm theo phương thức cầm tay chỉ việc", ông Lường Văn Mười cho biết thêm.

Tại xã Mường Mùn, cách giao chỉ tiêu thực hiện Nghị quyết 11 được cụ thể hóa rõ thành diện tích, địa bàn, rõ tiến độ và rõ người chịu trách nhiệm. Ông Trần Khắc Tuấn, Bí thư Đảng ủy xã Mường Mùn cho biết: Thực hiện Nghị quyết 11, Đảng ủy xã chỉ đạo thành lập các tổ công tác rà soát toàn bộ diện tích nương kém hiệu quả. Sau đó, thông báo để nhân dân nắm rõ từng khoảnh được quy hoạch chuyển đổi cây trồng.
Trong những ngày cao điểm mùa vụ, cán bộ, đảng viên xuống tận nương kiểm tra đất, hố trồng, cây giống; hướng dẫn người dân xuống giống, bón lót, chăm sóc. Những vướng mắc về đất đai, giống, kỹ thuật hay thời vụ được ghi nhận và tháo gỡ ngay tại cơ sở. Như vậy, trách nhiệm được nối dài từ khi xác định diện tích, đăng ký trồng đến khi cây bén rễ, sinh trưởng và hình thành vùng sản xuất.
Làm theo cách đó, năm 2026 Mường Mùn đã hoàn thành trồng mới 1.142ha cà phê (gần gấp 3 lần chỉ tiêu tỉnh giao); mắc ca trồng hơn 400ha và vượt nhiều so với chỉ tiêu tỉnh giao cho xã.

Từ cách làm thực tế ở Chiềng Sinh, Mường Mùn có thể thấy để một chủ trương đi vào cuộc sống thì việc chỉ giao nhiệm vụ chung là chưa đủ. Bởi chỉ tiêu phải được lượng hóa, địa bàn phải có người phụ trách và quá trình thực hiện phải được theo dõi đến cùng. Đây cũng là cách mà khi xây dựng, ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU về phát triển vùng cây trồng chủ lực Tỉnh ủy đã cụ thể nhiệm vụ, chỉ tiêu đến từng ngành, từng cấp. Tỉnh giao chỉ tiêu phát triển vùng cây chủ lực tối thiểu cho từng xã, phường; đồng thời thành lập Ban Chỉ đạo cơ cấu lại ngành Nông nghiệp ở cả cấp tỉnh và cấp xã. Các đồng chí Tỉnh ủy viên được phân công phụ trách xã; Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy xã được giao phụ trách từng thôn, bản. Kết quả thực hiện gắn với đánh giá trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong suốt quá trình triển khai, thực hiện Nghị quyết.

