Bài 2: Tạo bước chuyển từ tham gia sang dẫn dắt

Để hiện thực hóa tinh thần đột phá của Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc điều chỉnh chính sách không thể chỉ dừng ở mức độ hỗ trợ, mà cần chuyển sang kiến tạo cơ hội thực chất cho nhà khoa học nữ.

Giải thưởng nữ sinh khoa học công nghệ do Trung ương Đoàn phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức hằng năm nhằm tôn vinh những phụ nữ trẻ say mê nghiên cứu khoa học.

Giải thưởng nữ sinh khoa học công nghệ do Trung ương Đoàn phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức hằng năm nhằm tôn vinh những phụ nữ trẻ say mê nghiên cứu khoa học.

Điều đó đòi hỏi những thay đổi cụ thể, có trọng tâm và đủ mạnh để giải phóng tiềm năng của đội ngũ nữ trí thức.

Trao cơ hội, khơi tiềm năng

Trao cơ hội không chỉ là tạo điều kiện, mà còn là khẳng định niềm tin. Khi phụ nữ được tin tưởng, được hỗ trợ và được trao quyền, tiềm năng sáng tạo sẽ được khơi dậy mạnh mẽ, đóng góp thiết thực cho sự phát triển khoa học, chuyển đổi số và tương lai thịnh vượng của đất nước. Vậy những chính sách nào cần được ưu tiên điều chỉnh để nữ trí thức có điều kiện tham gia mạnh mẽ hơn vào nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới sáng tạo, góp phần hiện thực hóa tinh thần đột phá của Nghị quyết số 57-NQ/TW?

Nhiều chuyên gia và nhà quản lý và nhà khoa học khi được hỏi đã nhấn mạnh về các nhóm chính sách cần điều chỉnh ngay. Theo đó, ưu tiên hàng đầu là chính sách về độ tuổi và thời gian nghiên cứu - một rào cản kỹ thuật nhưng tác động lớn đến cơ hội thăng tiến của nhà khoa học nữ. Cần có cơ chế cộng thêm 3-5 năm khi xét duyệt chủ nhiệm đề tài cấp quốc gia, xét học hàm giáo sư, phó giáo sư hoặc giải thưởng khoa học trẻ đối với nữ giới; đồng thời tăng 30% số nữ chủ nhiệm đề tài khoa học. Cơ chế tài trợ cần phù hợp đặc thù giới, như cho phép giãn tiến độ, bảo lưu đề tài trong thời gian nghỉ thai sản; đồng thời tăng cường sự tham gia của nữ giới trong các hội đồng khoa học và vị trí quản lý để bảo đảm sự đa dạng trong hoạch định chính sách. Đây chính là “trao cơ hội” một cách thực chất, một chính sách linh hoạt và bao trùm.

Bên cạnh đó, cần triển khai cơ chế đặt hàng và giao nhiệm vụ trực tiếp. Thạc sĩ Lê Thị Khánh Vân, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng khoa học, công nghệ và khởi nghiệp thuộc Hội Nữ trí thức Việt Nam, cho biết, Văn bản số 4324/VPCP ngày 16/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Khoa học và Công nghệ quan tâm, hỗ trợ tạo điều kiện đặt hàng để Hội Nữ trí thức Việt Nam và các nhà khoa học nữ tham gia đóng góp cho phát triển khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo. Vấn đề đặt ra là cần bảo đảm việc đặt hàng không chỉ dừng ở định hướng, mà trở thành cơ hội thực chất.

Tiến sĩ Phạm Thu Hiền, Điều phối Câu lạc bộ các nhà khoa học Việt Nam tại Queensland (AVESQ) cho rằng, cần xây dựng một hệ sinh thái phát triển lãnh đạo nữ trong công nghệ chiến lược, chuyển từ cố vấn sang mô hình bảo trợ nghề nghiệp để các nhà khoa học nữ có cơ hội thực chất hơn. Hệ sinh thái cố vấn có hiệu quả cần được thiết kế theo vòng đời sự nghiệp. Việt Nam có lợi thế lớn khi cộng đồng chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài ngày càng mạnh và gắn bó với trong nước. Tích hợp bình đẳng giới và bao trùm xã hội (GESI) vào toàn bộ quy trình xây dựng, thẩm định và giám sát chính sách khoa học-công nghệ.

Song song với điều chỉnh chính sách là xây dựng một môi trường cạnh tranh công bằng, nơi năng lực và đóng góp của trí thức nữ được ghi nhận khách quan, không phụ thuộc vào giới tính. Xã hội cần nuôi dưỡng niềm tin khoa học cho các bạn trẻ nữ ngay từ khi còn trên ghế nhà trường. Xây dựng một môi trường khoa học vừa cạnh tranh vừa nhân văn, trong đó thước đo năng suất được thiết kế linh hoạt hơn, đánh giá tác động công trình theo chu kỳ dài thay vì chỉ dựa vào số lượng công bố hằng năm. Ngoài ra là thúc đẩy văn hóa nghiên cứu theo nhóm, mạng lưới cố vấn, hạ tầng hỗ trợ phù hợp và loại bỏ định kiến ngầm về giới.

Bệ đỡ quan trọng cho nhà khoa học nữ

Vai trò của các quỹ tài trợ, các tổ chức hỗ trợ phụ nữ trong khoa học ngày càng trở nên quan trọng, góp phần chuyển hóa định hướng chính sách thành cơ hội cụ thể cho nữ trí thức. Theo Tiến sĩ Lưu Đàm Ngọc Anh, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, các chương trình nghiên cứu, giải thưởng, hỗ trợ và tài trợ để thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ ở Việt Nam chưa thật sự phong phú ngoài hai chương trình đã được triển khai nhiều năm nay là Giải thưởng Kovalevskaya và L’Oreál - UNESCO với kinh phí còn hạn chế. Cần thiết kế thêm các chương trình nghiên cứu-phát triển tài trợ dành riêng cho nữ giới để có cơ hội và rèn luyện năng lực nghiên cứu. Với các chương trình dự án nghiên cứu nên có tỷ lệ cụ thể dành cho nữ khi xét duyệt.

Ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) cho biết, thời gian qua, Quỹ thực hiện nguyên tắc không phân biệt giới trong tiếp cận tài trợ; thành phần hội đồng khoa học có tỷ lệ nữ phù hợp theo từng lĩnh vực, trung bình khoảng 13,6%. Tỷ lệ nữ chủ nhiệm đề tài trong các chương trình nghiên cứu cơ bản đạt khoảng 25%. Cơ chế gia hạn linh hoạt đối với trường hợp thai sản, chăm sóc con nhỏ cũng được áp dụng, đồng thời tăng cường truyền thông về các nhà khoa học nữ tiêu biểu nhằm tạo động lực và hình mẫu tích cực.

Giai đoạn 2026-2030, định hướng chính sách được đặt ra rõ hơn trong dự thảo nghị định về tổ chức và hoạt động của Quỹ, trong đó đưa yếu tố ưu tiên nhà khoa học nữ vào cơ chế xét chọn... Song song đó là tăng cường kết nối với mạng lưới nữ trí thức Việt Nam trong nước và nước ngoài, tạo điều kiện mở rộng hợp tác và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quách Thị Ngọc An, Giảng viên Khoa Mỹ thuật ứng dụng, Trường đại học sư phạm Nghệ thuật Trung ương nhấn mạnh, cần có chính sách học bổng, tuyển chọn, đào tạo riêng cho học sinh nữ dân tộc thiểu số có năng lực học tập tốt, ưu tiên các ngành khoa học còn thiếu nữ giới. Nghiên cứu xây dựng các chương trình “ươm mầm nhà khoa học nữ” có sự đồng hành của các giảng viên, nhà khoa học. Tăng cường vai trò truyền cảm hứng của các nhà khoa học nữ thành công qua các buổi giao lưu, cố vấn học thuật. Đồng thời, phối hợp giữa các bộ, ngành để xây dựng một chiến lược dài hạn, có tầm nhìn về phát triển đội ngũ khoa học nữ toàn diện, công bằng và bền vững.

Bà Nguyễn Ngọc Tuyết Trinh - Phó Tổng Giám Đốc Phụ trách Đối ngoại và Phát triển bền vững tại L’Oreál Việt Nam cho biết, trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức, đổi mới và sáng tạo, cần một hệ sinh thái tích cực hỗ trợ và bảo vệ các nhà khoa học nữ ở mọi giai đoạn trên hành trình khoa học của họ. Bên cạnh chương trình hỗ trợ phụ nữ Việt Nam trong nghiên cứu khoa học, L’Oreál còn kết hợp với UNESCO tạo lập giải thưởng vinh danh các nhà khoa học nữ trên toàn cầu vì những đóng góp quan trọng của họ trong khoa học mỗi năm; chương trình truyền cảm hứng và giáo dục sớm ngành khoa học khuyến khích các nữ sinh ở cấp tiểu học và trung học theo đuổi các lãnh vực STEM trên khắp thế giới... Việc phát triển nữ giới trong khoa học không chỉ tạo ra chuỗi tác động tích cực lâu dài cho sự phát triển khoa học-công nghệ trong nước mà nó còn giúp Việt Nam nâng cao vị thế trong hợp tác quốc tế, nhận tài trợ và lan tỏa hình ảnh của một quốc gia đổi mới sáng tạo và tiến bộ trên toàn cầu.

Là tổ chức đại diện cho quyền của nữ trí thức trong lĩnh vực khoa học-công nghệ, bà Vân nhấn mạnh, Hội Nữ trí thức Việt Nam cần phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò chiến lược trong thời gian tới nhằm góp phần hiện thực hóa các mục tiêu đột phá của Nghị quyết số 57. Theo đó, tập trung phát huy vai trò cầu nối giữa nhà khoa học và doanh nghiệp, thúc đẩy liên kết liên ngành và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, đồng thời tham gia phản biện, đề xuất chính sách, nâng cao năng lực hội viên, góp phần tháo gỡ những rào cản về giới trong hoạt động khoa học.

Bài 1: Phát huy vai trò của nhà khoa học nữ

HÀ LINH - QUỲNH VŨ

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/bai-2-tao-buoc-chuyen-tu-tham-gia-sang-dan-dat-post946957.html