Bài 2: Tập tục cũ - áp lực mới

Lo hậu sự cho người đã khuất là đạo lý và cũng là nhu cầu chính đáng của mỗi gia đình. Song, trong bối cảnh quỹ đất an táng ngày càng thu hẹp, áp lực không gian phát triển phải được mở rộng ra thì bài toán nơi yên nghỉ cho người quá cố trở thành vấn đề của xã hội, đặt ra những yêu cầu mới với công tác quản lý, quy hoạch và sử dụng đất.

Lo hậu sự cho người đã khuất là đạo lý và cũng là nhu cầu chính đáng của mỗi gia đình. Song, trong bối cảnh quỹ đất an táng ngày càng thu hẹp, áp lực không gian phát triển phải được mở rộng ra thì bài toán nơi yên nghỉ cho người quá cố trở thành vấn đề của xã hội, đặt ra những yêu cầu mới với công tác quản lý, quy hoạch và sử dụng đất.

Vì muốn có đất an táng cho người quá cố, giữa tháng 6/2025, gia đình ông Trần Quốc M. ở TDP Tuy Hòa (phường Thành Sen) tự ý xây dựng các hạng mục để bao chiếm 60 m2 đất tại nghĩa trang Đồng Hiêm. Sau đó, UBND phường Thành Sen đã yêu cầu gia đình ông M. tháo dỡ các hạng mục đã làm, trả lại mặt bằng nguyên trạng.

Nghĩa trang thành phố Hà Tĩnh (cũ) nằm tại địa bàn xã Toàn Lưu, do UBND phường Thành Sen quản lý, đã đóng cửa được nhiều năm và hiện chỉ cho cát táng, không cho hung táng.

Nghĩa trang thành phố Hà Tĩnh (cũ) nằm tại địa bàn xã Toàn Lưu, do UBND phường Thành Sen quản lý, đã đóng cửa được nhiều năm và hiện chỉ cho cát táng, không cho hung táng.

Tại xã Lộc Hà, do đời sống khó khăn, anh Trần Văn Kh. ở thôn Trung Nghĩa phải chôn cất cha ở nghĩa trang Cồn Dài vốn đã đóng cửa cách đây khoảng 8 năm. Anh Trần Văn Kh. chia sẻ: “6 tháng trước, gia đình tôi đã đưa cha đến đó chôn cất vì không còn lựa chọn nào khác. Trước hết, do nhà neo người nên thuận tiện hơn trong việc hương khói, chăm sóc mộ phần; thứ nữa là nghĩa trang các dòng họ khác không cho người ngoài vào chôn cất; hỏa táng thì chi phí lớn, gia đình không thể lo liệu nổi”.

Sau hàng chục năm bôn ba mưu sinh ở miền Nam, khi tuổi xế chiều, ông Nguyễn Chí D. ở thôn Lương Ninh (xã Đan Hải) đã về quê tìm nơi an nghỉ cho mai này. Thế nhưng, do không còn quỹ đất trong nghĩa trang dòng họ, tháng 8/2025, ông D. tự ý xây bao một khu đất rộng 250 m2 trong khuôn viên nghĩa trang Làng Yên. Sự việc bị chính quyền địa phương phát hiện và yêu cầu hoàn trả lại nguyên trạng khu đất.

Người dân lập các ngôi mộ giả tại khu đất đã bao chiếm ở nghĩa trang Vĩnh Lác, thôn Hội Thành, xã Đan Hải.

Người dân lập các ngôi mộ giả tại khu đất đã bao chiếm ở nghĩa trang Vĩnh Lác, thôn Hội Thành, xã Đan Hải.

Video: Ông Đậu Văn Liễu - Bí thư Chi bộ thôn Hội Thành, xã Đan Hải nói về tình trạng người dân ở địa phương tự ý bao chiếm đất xây dựng các khu mộ.

QUỸ ĐẤT NGHĨA TRANG NÓI CHUNG VÀ ĐẤT DÀNH CHO HUNG TÁNG NÓI RIÊNG ĐANG RẤT HẠN CHẾ VÀ NGÀY CÀNG THIẾU HỤT.

Ông Đậu Tiến Dũng - Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp phường Thành Sen

Tập tục an táng truyền thống vẫn chiếm ưu thế, tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng nhanh khiến bài toán bố trí không gian “yên nghỉ” trở nên khó khăn, nhất là tại các đô thị và khu dân cư tập trung. Ông Đậu Tiến Dũng - Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp phường Thành Sen cho hay: “Trên địa bàn phường hiện có 17 nghĩa trang với tổng diện tích khoảng 317 ha. Tuy nhiên, hiện chỉ có 2 nghĩa trang được quy hoạch phục vụ nhu cầu hung táng với tổng diện tích hơn 60 ha; số còn lại đã đóng cửa hoặc chỉ cát táng. Vì vậy, quỹ đất nghĩa trang nói chung và đất dành cho hung táng nói riêng đang rất hạn chế và ngày càng thiếu hụt”.

Thực tế cho thấy, tập tục hung táng rồi cải táng sau ít năm còn khá phổ biến ở nhiều địa phương. Không chỉ làm gia tăng nhu cầu sử dụng đất nghĩa trang, hình thức này còn kéo theo nhiều chi phí về thời gian, kinh tế và tâm lý đối với người thân. Ông Đặng Thanh Bình - Trưởng thôn Hoa Đình (xã Đức Quang) cho biết: “Trong thôn chúng tôi có 3 trường hợp cải táng mộ cho người thân để người quá cố được yên nghỉ lâu dài và giảm áp lực về quỹ đất nghĩa trang. Thế nhưng, khi cất bốc thì thi thể người quá cố còn khá nguyên vẹn (có thể do trước đây họ mắc bệnh nan y hoặc bị tai nạn phải sử dụng nhiều loại thuốc đặc trị). Những trường hợp này phải đưa đi hỏa táng gây tốn kém, ô nhiễm và còn khiến người thân thêm một lần xót xa”.

 Do áp lực về quỹ đất, giá cả hỏa táng nên dù nghĩa trang Cồn Dài (xã Lộc Hà) đã đóng cửa cách đây nhiều năm, người dân ở Lộc Hà vẫn đưa người quá cố đến đây chôn cất.

Do áp lực về quỹ đất, giá cả hỏa táng nên dù nghĩa trang Cồn Dài (xã Lộc Hà) đã đóng cửa cách đây nhiều năm, người dân ở Lộc Hà vẫn đưa người quá cố đến đây chôn cất.

Không gian an táng ngày càng thu hẹp trong khi công tác quản lý còn nhiều bất cập đã khiến giá đất nghĩa trang ở nhiều nơi tăng nhanh, thiếu thống nhất và khó kiểm soát. Khảo sát một số địa bàn cho thấy, hiện nay, tại nghĩa trang Thịnh Lộc (xã Lộc Hà), giá đất dao động từ 500-800 nghìn đồng/m2; nghĩa trang Đồng Voi (phường Thành Sen) từ 2,5-3 triệu đồng/m2; nghĩa trang Rú Cu Nhe, nghĩa trang Rú Ông Hồng (xã Đức Thọ) khoảng 4 triệu đồng/m2... Hoạt động mua bán đất nghĩa trang hầu hết được thực hiện khá tùy tiện, hợp đồng bằng miệng với người quản trang hoặc cán bộ thôn chứ không có hóa đơn, chứng từ.

Nghĩa trang Đồng Ngang đang ngày càng tiến sát thôn 10, xã Hương Sơn.

Nghĩa trang Đồng Ngang đang ngày càng tiến sát thôn 10, xã Hương Sơn.

Tại Phúc Lạc Viên - Đài hóa thân hoàn vũ (nằm trên địa bàn xã Toàn Lưu) - nơi doanh nghiệp đã đầu tư nghĩa trang hiện đại - giá đất lên tới 10-15 triệu đồng/m2, vượt quá khả năng chi trả của phần lớn người dân nên đến nay hầu như chưa có người mua đất chôn cất. Bên cạnh đó, chi phí hỏa táng trọn gói lên đến 20-22 triệu đồng khiến nhiều gia đình không đủ điều kiện thực hiện. Đây cũng là lý do chính dẫn đến tỷ lệ người dân Hà Tĩnh sử dụng dịch vụ hỏa táng tại cơ sở này còn thấp, chỉ chiếm khoảng 40% tổng số ca thực hiện hằng ngày, 60% còn lại là khách hàng đến từ các tỉnh lân cận.

Quỹ đất nghĩa trang ngày càng thu hẹp đang khiến việc an táng người quá cố trở thành gánh nặng cho các gia đình, dòng họ.

Quỹ đất nghĩa trang ngày càng thu hẹp đang khiến việc an táng người quá cố trở thành gánh nặng cho các gia đình, dòng họ.

Toàn tỉnh hiện có khoảng 850 nghĩa trang với tổng diện tích hơn 5.000 ha, chiếm khoảng 0,83% tổng diện tích quỹ đất dành cho các ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, theo thống kê của Sở Xây dựng, chỉ có 25 nghĩa trang được đầu tư xây dựng theo quy hoạch đã được phê duyệt (24 nghĩa trang từ nguồn ngân sách nhà nước, 1 nghĩa trang từ nguồn vốn tư nhân) với tổng diện tích 127 ha; số còn lại đã đóng cửa, hoạt động tạm thời hoặc chỉ phục vụ cát táng. Ông Trần Mạnh Cường - chuyên viên Phòng Quản lý quy hoạch kiến trúc (Sở Xây dựng) thông tin: “Theo thống kê, ngoài quỹ đất dành cho phát triển KT-XH, giai đoạn 2020-2025, trung bình mỗi năm, Hà Tĩnh cần khoảng 6-10 ha đất để chôn cất hơn 10.000 người qua đời và xây dựng các hạng mục hạ tầng như đường giao thông, cây xanh, bãi đỗ xe, hệ thống thoát nước trong các khu nghĩa trang. Vấn đề này đang gây nhiều khó khăn cho công tác quy hoạch, bố trí và quản lý đất đai”.

Mang nặng quan niệm chôn cất truyền thống, ông Nguyễn Đ. (78 tuổi, xã Hồng Lộc) chia sẻ: “Tôi thoát ly quê hương đã mấy chục năm, giờ con cháu đều sinh sống ổn định ở Hà Nội. Tuy nhiên, vợ chồng tôi vẫn quyết định về quê làm một căn nhà nhỏ trên phần đất hương hỏa của cha ông để an hưởng tuổi già và cũng chuẩn bị hậu sự cho tương lai. Bởi trong sâu thẳm, chúng tôi luôn lo lắng rằng, sau khi mình qua đời, con cháu sẽ hỏa táng, gửi tro cốt vào chùa và theo guồng quay cuộc sống, chúng cũng sẽ ít về quê hương, dần quên nguồn cội”.

Nhiều nghĩa trang “phình to” khi các gia đình, dòng họ tự ý xây dựng, bao chiếm nhiều diện tích đất để có nơi an táng người quá cố.

Nhiều nghĩa trang “phình to” khi các gia đình, dòng họ tự ý xây dựng, bao chiếm nhiều diện tích đất để có nơi an táng người quá cố.

Để trọn chữ “hiếu”, 4 người con của cụ Lê Đình X. (90 tuổi, TDP Liên Xuân, phường Trần Phú) đã nhiều lần thuyết phục cha đồng ý hỏa táng sau khi qua đời. Thế nhưng, cụ X. nhất quyết không chấp nhận bởi quan niệm: “Chết phải toàn thây, không toàn thây thì khó siêu thoát”. Cụ yêu cầu phải được hung táng bên cạnh người vợ quá cố và căn dặn con cháu không được trái lời di huấn. Trước sự kiên quyết đó, các con của cụ đã phải chuẩn bị sẵn phần mộ huyệt tại nghĩa trang dòng họ.

NHẬN THỨC CỦA MỘT BỘ PHẬN NGƯỜI DÂN VỀ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA HỎA TÁNG ĐỐI VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG, TIẾT KIỆM QUỸ ĐẤT VÀ XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN MINH ĐÔ THỊ CÒN HẠN CHẾ.

Bà Lê Thị Phương Chi - Phó Chủ tịch UBND phường Trần Phú

Câu chuyện của ông Đ. hay cụ X. phản ánh khá rõ tâm lý của nhiều người dân hiện nay. Thực tế cho thấy, lựa chọn hình thức an táng không đơn thuần là quyết định của một gia đình mà còn gắn với tín ngưỡng, truyền thống văn hóa, ý chí họ tộc và những quan niệm được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bà Lê Thị Phương Chi - Phó Chủ tịch UBND phường Trần Phú cho biết: “Tỷ lệ hỏa táng trên địa bàn chưa cao (hiện chiếm hơn 20%) do tập tục và quan niệm mai táng truyền thống đã tồn tại từ lâu đời. Cùng đó, nhiều gia đình vẫn mong muốn người thân được địa táng ở nghĩa trang dòng họ để thuận tiện cho việc thờ cúng, chăm sóc. Ngoài ra, nhận thức của một bộ phận người dân về những lợi ích của hỏa táng đối với bảo vệ môi trường, tiết kiệm quỹ đất và xây dựng nếp sống văn minh đô thị còn hạn chế”.

Ông Thái Văn Sinh - nguyên Phó Trưởng ban Văn hóa - Xã hội, HĐND tỉnh chia sẻ: “Dưới góc độ nghiên cứu văn hóa học, tôi cho rằng, việc nhiều gia đình và dòng họ hiện nay vẫn ưu tiên lựa chọn “thổ táng” (địa táng) trước hết xuất phát từ tâm lý “lá rụng về cội” và tính gắn kết dòng tộc. Nhiều người quan niệm con người sinh ra từ đất mẹ thì khi nhắm mắt xuôi tay cũng cần được trở về với đất để hòa hợp tự nhiên. Việc chôn cất giúp duy trì khu mộ chung, nơi các thế hệ được sum họp với tổ tiên, tạo điều kiện thuận lợi để con cháu thăm viếng, chăm sóc và gìn giữ truyền thống gia phong. Thêm vào đó, yếu tố phong thủy mồ mả cũng chi phối lớn vì họ tin rằng mồ mả yên vị sẽ mang lại sự hưng thịnh cho hậu duệ”.

Theo thống kê, tỷ lệ người chết ở Hà Tĩnh đến Phúc Lạc Viên - Đài hóa thân hoàn vũ để hỏa táng chiếm khoảng 40% tổng số ca hỏa táng tại cơ sở này.

Theo thống kê, tỷ lệ người chết ở Hà Tĩnh đến Phúc Lạc Viên - Đài hóa thân hoàn vũ để hỏa táng chiếm khoảng 40% tổng số ca hỏa táng tại cơ sở này.

GỐC RỄ SÂU XA VÀ CŨNG LÀ “NÚT THẮT” KHÓ GỠ NẰM TRONG NHỮNG QUAN NIỆM VỀ AN TÁNG THEO PHƯƠNG THỨC TRUYỀN THỐNG ĐÃ ĂN SÂU VÀO TÂM THỨC CỦA NHIỀU THẾ HỆ NGƯỜI VIỆT.

Có thể thấy, gốc rễ sâu xa và cũng là “nút thắt” khó gỡ nằm trong những quan niệm về an táng theo phương thức truyền thống đã ăn sâu vào tâm thức của nhiều thế hệ người Việt, chưa dễ thay đổi trong một sớm một chiều. Bởi vậy, mặc dù từ năm 2017, Hà Tĩnh đã sớm thu hút được doanh nghiệp đầu tư cơ sở hỏa táng hiện đại bậc nhất miền Trung, đồng thời ban hành chính sách hỗ trợ, song, tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ chưa cao.

 Khu đất (khoanh khung đỏ) được dành cho chôn cất người quá cố bằng hình thức hung táng ở xã Đức Quang nhưng hiện có rất ít ngôi mộ do người dân ở đây chủ yếu đã hỏa táng người mất trước khi chôn cất.

Khu đất (khoanh khung đỏ) được dành cho chôn cất người quá cố bằng hình thức hung táng ở xã Đức Quang nhưng hiện có rất ít ngôi mộ do người dân ở đây chủ yếu đã hỏa táng người mất trước khi chôn cất.

Thống kê của Sở Xây dựng cho thấy, tỷ lệ hỏa táng trên địa bàn Hà Tĩnh những năm gần đây có tăng nhưng chậm (từ 8,7% năm 2022 lên 11,3% năm 2023, gần 16,2% năm 2024 và 16,7% năm 2025) và vẫn ở mức thấp so với nhiều địa phương trong cả nước, đặc biệt là các đô thị lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh hay TP Hồ Chí Minh. Ngay trong tỉnh, sự chênh lệch giữa các địa phương cũng khá lớn; một số xã như: Thiên Cầm, Gia Hanh, Đức Quang, Đức Thọ đạt từ 70-100%, trong khi nhiều địa phương khác dưới 10%.

Video: Ông Nguyễn Văn Ninh - Trưởng phòng Kinh tế - Hạ tầng và Đô thị, UBND phường Hà Huy Tập thông tin về tỷ lệ hỏa táng trên địa bàn.

Một thực tế nữa, hiện nay, tâm lý coi trọng vị thế gia đình, dòng họ đang khiến không ít người sẵn sàng bỏ nhiều tiền của, công sức để xây dựng các khu lăng mộ quy mô lớn, làm gia tăng nhu cầu sử dụng đất và gây khó khăn cho công tác quy hoạch, quản lý nghĩa trang. Tại nhiều địa phương, không khó bắt gặp những khu lăng mộ bề thế, kiên cố với mái che phủ kín, sân lát đá, cổng trụ to, tường bao được thiết kế cầu kỳ bằng các loại vật liệu đắt tiền. Có thể kể đến các khu lăng mộ lớn của gia đình ông Trương Đình Đ. (phường Sông Trí), khu nghĩa địa của chi họ Lê Văn tại nghĩa trang Miếu Càn (xã Mai Phụ), chi họ Nguyễn tại nghĩa trang Vĩnh Lác (xã Đan Hải); hay các khu lăng mộ có quy mô của các dòng họ như: họ Hoàng, họ Trần Cương, họ Nguyễn Hữu, họ Nguyễn Bá tại nghĩa trang Cảng Ngư (xã Đức Quang)…

Nhiều gia đình, dòng họ đầu tư số tiền lớn để xây dựng những khu lăng mộ bề thế, kiên cố với các loại vật liệu đắt tiền.

Nhiều gia đình, dòng họ đầu tư số tiền lớn để xây dựng những khu lăng mộ bề thế, kiên cố với các loại vật liệu đắt tiền.

ĐỂ THÁO GỠ NHỮNG “NÚT THẮT” ĐÒI HỎI PHẢI QUYẾT TÂM, KIÊN TRÌ TRONG TUYÊN TRUYỀN, NÂNG CAO NHẬN THỨC, ĐỒNG THỜI TRIỂN KHAI CÁC GIẢI PHÁP ĐỒNG BỘ...

Rõ ràng, áp lực về đất an táng không chỉ xuất phát từ sự gia tăng nhu cầu sử dụng đất hay quá trình đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ, mà sâu xa hơn còn ở những tập quán cố hữu. Khi yêu cầu sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên đất đai ngày càng trở nên cấp thiết, việc nhanh chóng thay đổi nhận thức của cộng đồng hướng tới hình thức an táng văn minh càng phải đặt ra. Để tháo gỡ những “nút thắt” đòi hỏi phải quyết tâm, kiên trì trong tuyên truyền, nâng cao nhận thức, đồng thời triển khai các giải pháp đồng bộ từ việc quy hoạch, quản lý, cơ chế chính sách…

BÀI, ẢNH: TIẾN DŨNG - VĂN ĐỨC - TRẦN VŨ
THIẾT KẾ: HUY TÙNG

(còn nữa)

Bài 1: Độ trễ trong quy hoạch và quản lý nghĩa trang

Những khoảnh đất được “cất phần” cho nhiều thế hệ mai sau, những khu nghĩa trang ngày một “phình” về phía đất sản xuất, đất công cộng... là thực trạng diễn ra nhiều năm nay ở Hà Tĩnh. Khi công tác quy hoạch, quản lý chưa theo kịp thực tiễn, những hệ lụy về môi trường, cảnh quan, cản trở không gian phát triển ngày càng hiện hữu.

Tiến Dũng - Văn Đức - Trần Vũ

Nguồn Hà Tĩnh: https://baohatinh.vn/bai-2-tap-tuc-cu-ap-luc-moi-post312012.html