Bài 3: Khi cơ chế hành chính làm khoa học chậm nhịp
Những vướng mắc về hóa đơn, thủ tục, đấu thầu chỉ là phần nổi. Sâu xa hơn, khoa học đang vận hành trong khuôn khổ hành chính thiếu linh hoạt, khiến tốc độ nghiên cứu không theo kịp yêu cầu thực tiễn.
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực tăng trưởng chiến lược, Việt Nam đầu tư mạnh chưa từng có cho lĩnh vực này với hàng chục nghìn tỷ đồng ngân sách được bổ sung theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW. Tuy nhiên, ở tầng vĩ mô chính sách thông thoáng và đột phá bao nhiêu thì ở tầng vi mô, cả chục nghìn tỷ đồng đã được ngân sách bố trí lại không tiêu được.
Từ khảo sát thực tiễn tại các đơn vị nghiên cứu và phỏng vấn các nhà khoa học, VietTimes đăng tải loạt bài "Hàng chục nghìn tỷ đầu tư phát triển khoa học công nghệ không tiêu được, vì sao?" đi sâu phân tích những điểm nghẽn về cơ chế đang cản trở dòng vốn cho khoa học công nghệ và tìm giải pháp để khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển trong giai đoạn mới.
Bài 1: Tiền đã có nhưng đang nằm chờ
Bài 2: Những ách tắc nhỏ giết chết đề tài lớn
Tòa soạn VietTimes

Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết 57 và trong bối cảnh Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đã có nhiều điều chỉnh theo hướng trao quyền, hoạt động nghiên cứu vẫn đối diện nghịch lý chính sách đã thay đổi, nhưng cách vận hành ở cấp thực thi chưa theo kịp.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Vụ Khoa học xã hội, Nhân văn và Tự nhiên (Bộ KH&CN), cho biết Luật mới là thay đổi cách phân loại nhiệm vụ khoa học công nghệ theo hướng đơn giản và linh hoạt hơn.
Thay vì chia theo cấp quản lý kinh phí như trước đây là quốc gia, bộ, tỉnh, cơ sở, thì nay, các nhiệm vụ được xác định theo tính chất và cơ chế thực hiện, gồm 3 nhóm chính: nhiệm vụ do Nhà nước tài trợ, nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng và nhiệm vụ cơ sở do tổ chức KH&CN công lập chủ động xây dựng, thực hiện từ nguồn kinh phí được giao hoặc nguồn kinh phí tự chủ.

Nhà nghiên cứu cho rằng khó khăn lớn nhất hiện nay là thời gian hành chính không theo kịp thời gian công nghệ. Ảnh minh họa.
Cách tiếp cận này được kỳ vọng sẽ tạo không gian linh hoạt hơn cho các đơn vị nghiên cứu, giảm bớt rào cản hành chính và chuyển dần sang quản lý theo kết quả đầu ra. Tuy nhiên, theo phản ánh từ nhiều viện, trường và nhóm nghiên cứu, thay đổi này hiện mới dừng ở khung pháp lý, trong khi cách vận hành cụ thể vẫn chưa có chuyển biến tương ứng. Việc mua sắm công cụ phục vụ nghiên cứu phải qua trung gian để hợp thức hóa hóa đơn, làm tăng chi phí và giảm hiệu quả sử dụng ngân sách.
TS Vũ Khải Thông (ĐH Bách Khoa TP.HCM) nhận định khó khăn lớn nhất hiện nay là thời gian hành chính không theo kịp thời gian công nghệ. Công nghệ thay đổi rất nhanh, nhu cầu từ doanh nghiệp cũng cần phản ứng nhanh, nhưng nếu phê duyệt chậm, giải ngân chậm, mua sắm chậm thì rất dễ bỏ lỡ thời điểm triển khai.
Không chỉ dừng lại ở khâu phê duyệt, tiến độ cấp kinh phí cũng không đồng bộ với tiến độ nghiên cứu. Có những đề tài kéo dài hai năm nhưng năm đầu chỉ được cấp một phần nhỏ kinh phí, trong khi phần lớn công việc đã được triển khai.
Điều này buộc các nhóm nghiên cứu phải tự xoay xở nguồn lực, thậm chí ứng trước kinh phí cá nhân để đảm bảo tiến độ, làm tăng rủi ro tài chính cho chính người làm khoa học.

Trao đổi với VietTimes, PGS.TS Kim Bảo Giang, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội cho biết vướng mắc nhất hiện nay là việc thực hiện đề tài đơn lẻ, vì thời gian đề tài không quá 36 tháng và kinh phí hạn chế. Với hạn chế như vậy, nhiều đề tài chưa thể giải quyết được một vấn đề thực sự mà có thể mới chỉ là một góc của vấn đề.
Như với các đề tài về y sinh học, nghiên cứu lâm sàng và thử nghiệm thường là các nghiên cứu đòi hỏi đầu tư nhiều, tuyển bệnh và theo dõi trong thời gian dài. Tính tổng thể lại thì nhiều khi có ý tưởng hay, dài hơi nhưng đề tài theo quy mô hiện tại nhưng cũng chưa đủ để nuôi dưỡng và giải quyết ý tưởng đó.
Ngoài ra, trường cũng chưa thấy cơ chế cụ thể để có thể đề xuất nguồn tài trợ kinh phí KHCN, thiết kế các ưu tiên phát triển KHCN một cách hệ thống theo chủ đề và lộ trình phát triển KHCN của nhà trường.

Trường Đại học Y Hà Nội là nơi tập trung nhiều nhà khoa học tên tuổi và triển khai nhiều đề tài quan trọng cho ngành y tế
Còn theo Th.S Nguyễn Văn Thọ, Viện Nghiên cứu và đào tạo Việt-Anh (VNUK), kiêm nghiên cứu tại Viện Khoa học và Công nghệ tiên tiến (UD-AIST) Đại học Đà Nẵng, mặc dù đã có chủ trương tăng tự chủ, nhưng ở một số nơi việc vận hành vẫn còn theo thói quen quản lý cũ, nên nhà khoa học vẫn mất nhiều thời gian cho thủ tục trung gian.
Vấn đề nữa là các đề tài nghiên cứu ứng dụng hoặc có yếu tố thử nghiệm công nghệ mới, rủi ro là điều bình thường và Nghị quyết 193/2025/QH15 của Quốc hội đã mở ra cơ chế chấp nhận rủi ro, nhưng trên thực tế việc thực thi điểm này vẫn chưa thấy rõ. Có thể do tâm lý e ngại khi áp dụng, do sợ trách nhiệm kiểm tra, thanh tra hoặc chưa có hướng dẫn thật cụ thể.
Thứ ba là việc giải ngân, mua sắm, điều chỉnh nội dung chuyên môn trong quá trình nghiên cứu đôi khi vẫn chưa theo kịp nhịp độ thực tế của hoạt động khoa học. Trong khi nghiên cứu cần sự linh hoạt, thì một số thủ tục vẫn còn độ trễ.
Thứ tư, giữa mục tiêu “đặt hàng theo sản phẩm cuối cùng” và cách vận hành tài chính tại cơ sở đôi lúc còn có khoảng cách. Đây là điểm cần tiếp tục tháo gỡ để nhà khoa học thật sự được làm khoa học thay vì dành nhiều công sức cho giấy tờ.

Một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động khoa học là thu nhập của đội ngũ nghiên cứu.
Theo phản ánh từ nhiều đơn vị, thu nhập từ các đề tài sử dụng ngân sách nhà nước hiện chưa đủ để nhà khoa học toàn tâm cho nghiên cứu. Phần kinh phí dành cho nhân lực còn thấp so với yêu cầu chuyên môn và khối lượng công việc.
Với gần 20 năm kinh nghiệm nghiên cứu, từng làm việc và được kiểm chứng năng lực trong cả môi trường trong nước và quốc tế, nhiều nhà khoa học như TS Trịnh Trung Vĩnh (cán bộ nghiên cứu của Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết đang nhận mức lương cố định khoảng 13 triệu đồng mỗi tháng. Phần thu nhập bổ sung từ các đề tài khoa học, vốn được kỳ vọng bù đắp cho lao động trí tuệ chuyên sâu, lại thiếu ổn định, phụ thuộc lớn vào nguồn tiền ngân sách nhà nước.

Trong khi đó, cũng với năng lực chuyên môn tương đương, khi tham gia khu vực doanh nghiệp hoặc các dự án hợp tác thị trường, họ có thể nhận mức thu nhập cao hơn gấp 4-5 lần, đi kèm với điều kiện làm việc linh hoạt và cơ chế đãi ngộ rõ ràng hơn. Khoảng chênh lệch này không chỉ là câu chuyện thu nhập, mà đang tạo ra lực hút dịch chuyển nhân lực chất lượng cao ra khỏi khu vực nghiên cứu công lập.
Hệ quả không dừng ở từng cá nhân, mà tác động trực tiếp đến chất lượng, tính kế thừa và sự ổn định của đội ngũ khoa học. Khi những người có kinh nghiệm rời đi, hệ thống nghiên cứu mất dần những “hạt nhân” dẫn dắt, trong khi lớp kế cận thiếu động lực để gắn bó lâu dài, làm suy giảm năng lực tích lũy và phát triển tri thức một cách bền vững.
Ngoài ra, cơ chế chi tiêu lại yêu cầu nhiều thủ tục hành chính, từ báo cáo chuyên đề, hợp đồng thuê khoán đến thanh lý hợp đồng. Nhà khoa học không chỉ làm chuyên môn mà còn phải xử lý một khối lượng lớn công việc ngoài nghiên cứu. Khu vực công không có được lợi thế về thu nhập, trong khi có nhiều ràng buộc hơn so với khu vực doanh nghiệp.
TS Vũ Khải Thông (ĐH Bách Khoa TP.HCM) cho biết nhà nghiên cứu hiện nay phải đảm nhiệm rất nhiều vai trò cùng lúc, từ làm chuyên môn, kết nối doanh nghiệp, tìm nguồn lực, vận hành nhóm đến xử lý thủ tục và tính toán khả năng ứng dụng.

Không chỉ vướng ở khâu triển khai, quá trình chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thực tế cũng đang gặp nhiều rào cản.
Một trong những bất cập lớn là tiến độ cấp kinh phí không đồng bộ với tiến độ thực hiện. TS Trịnh Trung Vĩnh dẫn một đề tài nghiên cứu do Bộ Khoa học và Công nghệ cấp kinh phí và chỉ ra đề tài kéo dài 2 năm nhưng năm đầu chỉ được cấp hơn 100 triệu đồng, trong khi khối lượng công việc đã thực hiện hơn 50%. Phần kinh phí còn lại dồn vào năm sau, khiến áp lực tài chính và triển khai dồn nén vào giai đoạn cuối, khiến nhóm nghiên cứu phải làm việc cầm chừng chờ nguồn kinh phí.
Theo số liệu từ một viện nghiên cứu của Bộ Khoa học và Công nghệ, kinh phí năm 2025 cho các nhiệm vụ khoa học công nghệ ở cấp bộ và cấp cơ sở là hơn 14 tỷ đồng, sang năm 2026 tăng lên hơn 23 tỷ đồng. Tuy nhiên, phần tăng này chủ yếu do dồn từ các nhiệm vụ chưa được cấp vốn của năm trước.
Đồng thời, yêu cầu tiết kiệm khoảng 10% kinh phí để phục vụ xây dựng hạ tầng giao thông cũng khiến nguồn lực thực tế bị thu hẹp. Trong khi đó, tình trạng chậm giải ngân hoặc không tiêu hết kinh phí vẫn diễn ra, dẫn đến việc vốn bị thu hồi hoặc điều chuyển.
Điều này cho thấy vấn đề không nằm ở quy mô ngân sách, mà ở cách thức phân bổ và sử dụng nguồn lực. Khi tiền không “đi đúng nhịp” với nghiên cứu, hiệu quả đầu tư sẽ khó được phát huy.
Thực tế của các nhà khoa học hiện nay gặp phải cho thấy một điểm nghẽn xuyên suốt: Khoảng cách giữa chính sách và thực thi.
Các chủ trương mới đã đặt ra định hướng rõ ràng về việc chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả, trao quyền tự chủ và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu. Tuy nhiên, ở cấp độ vận hành, nhiều cơ chế vẫn chưa theo kịp yêu cầu này.
Hoạt động nghiên cứu hiện đại, với đặc thù linh hoạt, đa dạng và gắn với thị trường, vẫn đang vận hành trong một khuôn khổ quản lý mang tính hành chính, nặng về kiểm soát và thiếu linh hoạt.

TS Vũ Khải Thông cho rằng vấn đề cốt lõi hiện nay không phải là thiếu ý tưởng hay thiếu bài toán nghiên cứu, mà là vướng ở khâu thực thi.
Theo một số nhà khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, một trong những khó khăn lớn nhất là huy động nguồn lực xã hội hóa cho nghiên cứu. Do công nghệ chưa hoàn thiện và chưa có sản phẩm thương mại ngay, doanh nghiệp thường không sẵn sàng tham gia góp vốn.
Quy định về tỷ lệ vốn đối ứng trong nhiều trường hợp trở thành rào cản, khiến các nhà khoa học khó tìm được đối tác đồng hành. Hệ quả là nhiều nhóm nghiên cứu buộc phải lựa chọn những đề tài an toàn, quy mô nhỏ, thay vì theo đuổi các hướng nghiên cứu mang tính đột phá.
Bên cạnh đó, vấn đề quyền sở hữu và khai thác kết quả nghiên cứu vẫn chưa có hành lang pháp lý rõ ràng. Việc định giá công nghệ, phân chia lợi ích giữa Nhà nước và doanh nghiệp còn nhiều điểm chưa thống nhất, khiến doanh nghiệp e ngại rủi ro pháp lý.
Trong bối cảnh đó, tâm lý “sợ mất trắng” khiến nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, không sẵn sàng đầu tư vào các dự án nghiên cứu có độ rủi ro cao.
TS Vũ Khải Thông cho rằng vấn đề cốt lõi hiện nay không phải là thiếu ý tưởng hay thiếu bài toán nghiên cứu, mà là vướng ở khâu thực thi: tài chính chậm, thủ tục nặng, nhân sự mỏng, thương mại hóa khó và sự phối hợp giữa nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp chưa đồng bộ.

Để khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển, nhiều chuyên gia cho rằng cần có những điều chỉnh mang tính căn cơ.
Trước hết, cần đẩy mạnh chuyển đổi sang quản lý theo kết quả đầu ra, giảm bớt kiểm soát chi tiết các khoản chi đầu vào. Đồng thời, cần thiết kế cơ chế tài chính linh hoạt hơn, cho phép điều chỉnh trong quá trình triển khai và chấp nhận các giao dịch phù hợp với thực tiễn nghiên cứu hiện đại.
Bên cạnh đó, việc hoàn thiện hành lang pháp lý về sở hữu trí tuệ, cơ chế chia sẻ lợi ích và huy động nguồn lực xã hội hóa cũng là yếu tố then chốt để thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Cuối cùng, cần cải thiện chế độ đãi ngộ để nhà khoa học có thể sống được bằng nghề, từ đó tạo động lực lâu dài cho hoạt động nghiên cứu.
Nếu bài toán của giai đoạn trước là thiếu nguồn lực, thì hiện nay thách thức lớn hơn nằm ở cách sử dụng nguồn lực đó. Khi cơ chế chưa đủ linh hoạt, tiền có thể không “đi đúng chỗ”, không “đi đúng lúc” và không “đi đúng cách”. Và khi đó, dù ngân sách có tăng lên, hiệu quả vẫn khó được cải thiện tương xứng.
* Tên một vài nhân vật trong bài đã được thay đổi theo yêu cầu.
Thiết kế: Xuân Lực
Những vướng mắc ở phòng thí nghiệm hay trong từng đề tài nghiên cứu thực chất chỉ là phần nổi của một vấn đề lớn hơn: “độ lệch thể chế” giữa tinh thần đổi mới chính sách và cách vận hành thực tế. Khi cơ chế tài chính, đầu tư và giải ngân vẫn vận hành theo tư duy cũ, nguồn lực dù tăng mạnh cũng khó chuyển hóa thành công nghệ và năng lực cạnh tranh thực chất.
Bài 4: “Vì sao vẫn ‘tắc’ ở khâu phân bổ?” sẽ đi sâu vào những khoảng trống pháp lý, nút thắt điều phối và tư duy quản lý đang khiến dòng vốn khoa học công nghệ rơi vào vòng luẩn quẩn: tiền chờ cơ chế, còn đổi mới sáng tạo tiếp tục chậm nhịp.











