Bãi bỏ điều kiện kinh doanh không đồng nghĩa buông lỏng quản lý
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng khẳng định, việc bãi bỏ điều kiện đầu tư kinh doanh không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý nhà nước.
Chiều 12/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Tập trung bãi bỏ điều kiện kinh doanh, không phát sinh chính sách mới
Phát biểu giải trình, làm rõ ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh, dự án Luật chỉ tập trung luật hóa Nghị quyết số 66.19/2026, bổ sung các nội dung liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh và không phát sinh chính sách mới.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng.
Bộ trưởng cho biết, trong chương trình lập pháp năm 2027, Chính phủ đã đăng ký với Quốc hội sửa đổi 7 luật, gồm: Luật Địa chất và Khoáng sản; Luật Chăn nuôi (sẽ gộp Luật Chăn nuôi và Luật Thú y); Luật Trồng trọt (sẽ gộp Luật Trồng trọt và Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật); Luật Thủy sản; Luật Khí tượng thủy văn; Luật Đê điều; Luật Phòng, chống thiên tai.
Đối với sửa đổi Luật Trồng trọt, nhiều đại biểu quan tâm, đề nghị cân nhắc việc bãi bỏ toàn bộ điều kiện buôn bán phân bón, giống cây trồng. Bộ trưởng cho biết, dự án Luật Đầu tư dự kiến bãi bỏ ngành, nghề buôn bán phân bón, giống cây trồng. Vì vậy, dự án Luật này bãi bỏ các điều kiện đầu tư kinh doanh tương ứng nhằm bảo đảm thống nhất, đồng bộ.
“Việc bãi bỏ điều kiện đầu tư kinh doanh không đồng nghĩa với việc buông lỏng quản lý nhà nước đối với hoạt động này”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Theo Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng, khoản 2 Điều 35 và khoản 2 Điều 51 Luật Trồng trọt đã quy định nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân buôn bán giống cây trồng, phân bón, trong đó có việc cung cấp chứng từ hợp pháp để truy xuất nguồn gốc và chấp hành thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Tuy nhiên, cơ quan soạn thảo nhận thấy khi sửa đổi Luật Trồng trọt trong thời gian tới, các nội dung này cần được quy định chi tiết, rõ ràng hơn.
Về đề nghị bổ sung trách nhiệm lưu giữ hồ sơ, tài liệu minh chứng nội dung tự công bố, đồng thời quy định chi tiết về hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, Bộ trưởng cho biết dự thảo Luật đã quy định tổ chức, cá nhân tự công bố lưu hành giống cây trồng phải chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác của thông tin đã tự công bố, công khai.
Đồng thời, dự thảo giao Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định nội dung thông tin phải công bố, hình thức công khai, việc lưu giữ hồ sơ, tài liệu minh chứng và cung cấp khi có yêu cầu, tạo cơ sở cho việc tra cứu, giám sát, thanh tra, kiểm tra và hậu kiểm.
Mục tiêu là cắt giảm thủ tục, phân cấp, phân quyền
Về sửa đổi Luật Chăn nuôi, trước đề nghị quy định trách nhiệm cập nhật thông tin về thành phần, tiêu chuẩn chất lượng, quy trình sản xuất sau khi tự công bố sản phẩm, Bộ trưởng cho biết dự thảo Nghị định quy định chi tiết đã quy định các hồ sơ, tài liệu, thông tin về sản phẩm mà tổ chức, cá nhân phải thực hiện công bố, gồm tài liệu liên quan đến điều kiện sản xuất, chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn áp dụng, giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ.
“Mục tiêu cao cả nhất của luật này chính là cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền, nhưng mà làm sao để cho nó đơn giản nhất, thuận lợi nhất và các tổ chức, cá nhân, người dân được hưởng các lợi ích cao nhất”, Bộ trưởng nói.
Đối với Luật Địa chất và Khoáng sản, Bộ trưởng cho biết dự thảo Luật phân quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi có diện tích chiếm tỷ lệ lớn nhất giải quyết thủ tục hành chính đối với hoạt động khoáng sản trên địa bàn từ 2 tỉnh trở lên, đồng thời có trách nhiệm lấy ý kiến các địa phương còn lại. Nếu vẫn còn ý kiến khác nhau, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Đối với khoáng sản chiến lược, quan trọng, Bộ trưởng cho biết theo Luật Địa chất và Khoáng sản hiện hành, việc quản lý thuộc Trung ương. Riêng đất hiếm, việc cấp giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản do Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp sau khi có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ.
Tiếp thu ý kiến đại biểu, dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng, đối với trường hợp chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác khoáng sản đất hiếm, người có thẩm quyền chỉ quyết định việc chuyển nhượng sau khi có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ.
Về năng lực thực hiện phân cấp, phân quyền tại địa phương, Bộ trưởng cho rằng có 3 vấn đề quan trọng nhất là cơ sở vật chất, đội ngũ và quy trình hướng dẫn.
Đối với quy trình hướng dẫn và đội ngũ, Bộ có thể hỗ trợ; còn về cơ sở vật chất, các tỉnh cơ bản chủ động. Trường hợp thiếu kinh phí, địa phương báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công.











