Bài cuối: Kích hoạt mạng lưới 'nhà an toàn' - Địa chỉ tin cậy để phòng, chống bạo lực gia đình
Có một thực trạng rằng phần lớn người bị bạo lực gia đình (BLGĐ) đều chịu đựng bạo lực trong thời gian rất dài với lý do phổ biến nhất: 'Ở lại vì không biết đi đâu'. Nghiên cứu quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ do Bộ LĐ-TB&XH (cũ) và Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) thực hiện năm 2019 cho thấy, 58% người bị BLGĐ nói họ không có nơi nào để đi nếu rời khỏi nhà. Điều này chỉ ra một sự thật rằng, nếu không có thiết chế hỗ trợ, pháp luật khó tiếp cận được người bị BLGĐ, thì mạng lưới 'nhà an toàn', 'địa chỉ tin cậy' chính là 'điểm chạm' đầu tiên giúp họ dám bước ra khỏi bạo lực.
“Nhà an toàn” - góc nhìn từ Luật Phòng, chống BLGĐ
Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2022 lần đầu tiên đưa “nhà an toàn” vào nhóm dịch vụ hỗ trợ bắt buộc và mở rộng cả đối tượng, cơ chế vận hành, tiêu chuẩn chuyên môn. Bên cạnh quy định về việc bố trí nơi tạm lánh và hỗ trợ nhu cầu thiết yếu là một trong những biện pháp ngăn chặn hành vi BLGĐ và bảo vệ, hỗ trợ người bị BLGĐ (điểm d khoản 1 Điều 22) đã dành hẳn Mục 3 bao gồm các Điều từ 35 đến 40 quy định chi tiết về cơ sở trợ giúp phòng, chống BLGĐ. Cũng theo luật, địa điểm “địa chỉ tin cậy” và “nhà an toàn” có thể thuộc Nhà nước hoặc xã hội hóa; được vận hành có quy trình, có nhân sự chuyên môn; được kết nối với công an, y tế, tư pháp… Luật cũng tăng trách nhiệm địa phương khi giao UBND cấp tỉnh bảo đảm kinh phí; xây dựng mạng lưới cơ sở hỗ trợ; kiểm tra định kỳ về chất lượng dịch vụ…
Có thể thấy, từ góc nhìn thực thi luật, “nhà an toàn” vừa là điểm bắt đầu của hành trình thoát khỏi bạo lực, vừa là thước đo năng lực bảo vệ người bị BLGĐ của một địa phương. “Nhà an toàn” không còn là “phụ trợ” mà là một tiêu chí bắt buộc trong thi hành luật. Đây là bước tiến lớn vì trước đây phần lớn mô hình mang tính tự phát hoặc có nguồn tài trợ dự án quốc tế, mà chưa có khung pháp lý đầy đủ.
Trước thời điểm Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2022 có hiệu lực từ 1/7/2023, tại Việt Nam có hai mô hình về “nhà an toàn” là “Ngôi nhà Bình yên” (Hội LHPN Việt Nam) và “Nhà Ánh Dương” (Bộ LĐ-TB&XH trước đây, Bộ Nội vụ hiện nay) tại một số tỉnh, thành, địa phương vận hành trong khuôn khổ dự án quốc tế. Bên cạnh đó là một số cơ sở trợ giúp phòng, chống BLGĐ khác nhỏ lẻ tại nhiều địa phương. Từ khi Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2022 có hiệu lực số lượng “nhà an toàn” tăng lên.
Theo Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện, Bộ VH,TT&DL, tính đến năm 2024, cả nước có hơn 12.000 mô hình phòng, chống BLGĐ; gần 30.000 câu lạc bộ gia đình phát triển bền vững; hơn 39.000 nhóm phòng, chống BLGĐ; khoảng 50.000 địa chỉ tin cậy ở cộng đồng... Hội LHPN Việt Nam tiếp tục vận hành Trung tâm trợ giúp xã hội - “Ngôi nhà Bình yên” và các mô hình như “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, “Gia đình hạnh phúc”… Trung ương Hội Nông dân triển khai mô hình “Người cha trách nhiệm”, một số địa phương phát triển mô hình “Một cửa” hỗ trợ toàn diện phụ nữ, trẻ em bị bạo lực, xâm hại. Những mô hình này không chỉ nâng cao năng lực ứng phó mà còn là điểm tựa thiết thực cho người bị BLGĐ.

“Ngôi nhà Ánh Dương” - một mô hình “nhà an toàn” được đưa vào sử dụng ở tỉnh Hòa Bình cũ (nay là Phú Thọ) vào tháng 1/2025. (Ảnh: Thu Trang)
Nhưng bên cạnh những thành quả về mô hình “địa chỉ tin cậy” và “nhà an toàn” mang lại thì vẫn còn nhiều hạn chế trong việc triển khai như: Thiếu trầm trọng số lượng mô hình “nhà an toàn” (nhiều địa phương chỉ có 1 - 2 điểm tạm lánh tự phát ở cơ sở hoặc không có địa chỉ chính thức); thiếu kinh phí vận hành (đây là rào cản lớn nhất bởi “nhà an toàn” cần hoạt động 24/7, cần nhân sự chuyên môn tâm lý, xã hội học, pháp lý, cần cơ sở vật chất tối thiểu giường, bếp, khu riêng tư cho trẻ…, nhiều địa phương báo cáo “có mô hình nhưng không có tiền duy trì”); nhân lực vận hành mô hình “nhà an toàn” còn rất thiếu và yếu, chủ yếu cán bộ kiêm nhiệm nên dẫn đến hỗ trợ không toàn diện; quy trình liên thông còn chậm; thiếu dữ liệu thống nhất giữa các địa phương, Bộ, ngành do không có cơ sở dữ liệu quốc gia, nên rất khó đánh giá tác động của luật…
Làm gì để “nhà an toàn” trở thành thiết chế đầu tiên bảo vệ người bị BLGĐ?
Nhiều chuyên gia về phòng, chống BLGĐ khẳng định rằng, không phải bệnh viện, công an hay tòa án, mà chính mô hình “địa chỉ tin cậy” và “nhà an toàn” mới là nơi người bị BLGĐ tìm đến đầu tiên. Bởi, nạn nhân rời đi trong sợ hãi, thường không có tiền, không giấy tờ, không mang theo đồ đạc và họ cần một nơi trú ngay lập tức, khi đó, “nhà an toàn” là vùng đệm tâm lý để người bị BLGĐ lấy lại cảm giác an toàn, tin cậy. Và quan trọng hơn cả tại đây người bị BLGĐ được cung cấp tư vấn tâm lý; giám định thương tích; tư vấn pháp luật; đào tạo nghề, kết nối việc làm; hỗ trợ tạm trú từ vài tuần đến vài tháng…, để từ đó có được kỹ năng sống, nghề nghiệp mới. Thế nên, có thể khẳng định, không có thiết chế nào ngoài “nhà an toàn” có thể làm đồng bộ tất cả những điều nói trên. “Nhà an toàn” không chỉ là một địa chỉ, đó là lá chắn, là hy vọng, là cánh cửa đầu tiên mở ra để “đóng” lại bạo lực.
Ngày 2/10/2025, tại Lễ kỷ niệm 95 năm thành lập Hội LHPN Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ đạo mỗi tỉnh có ít nhất 5 “nhà an toàn” cho phụ nữ và trẻ em: “Mỗi tỉnh có ít nhất 5 “nhà an toàn” cho phụ nữ và trẻ em, kết nối đường dây nóng 24/7. Mỗi xã, phường có một mô hình dịch vụ chăm sóc cộng đồng do phụ nữ làm nòng cốt...”.
Chỉ đạo này mang 3 thông điệp lớn: Thứ nhất, chuyển trọng tâm từ “can thiệp khi có bạo lực” sang “bảo vệ từ sớm, từ xa”; thứ hai, “nhà an toàn” trở thành thiết chế xã hội bắt buộc, không phải hoạt động từ thiện; thứ ba, bảo vệ phụ nữ và trẻ em là trách nhiệm của chính quyền địa phương. Từ chỉ đạo này có thể khẳng định, hình thành và vận hành hiệu quả mô hình “nhà an toàn” là nhiệm vụ chính trị của các Bộ, ngành, địa phương, quyết tâm đưa Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu xóa bỏ bạo lực giới trong gia đình và cộng đồng, đây cũng là một trong những nội dung quan trọng của Luật Phòng, chống BLGĐ hiện hành.
Theo nhiều chuyên gia, để chỉ đạo về “nhà an toàn” đi vào thực tiễn, cần các nhóm giải pháp lớn như: Hoàn thiện khung pháp lý (cần ban hành Thông tư quy định tiêu chuẩn cơ sở vật chất, nhân sự, quy trình vận hành, đưa “nhà an toàn” vào hệ thống an sinh xã hội bắt buộc cấp tỉnh); bố trí ngân sách bền vững; đào tạo đội ngũ chuyên nghiệp bao gồm chuyên gia tâm lý sang chấn, luật sư, cán bộ pháp lý, cán bộ công an chuyên trách, nhân viên xã hội; thiết lập quy trình liên thông kết nối Tổng đài 111, 112 tới công an, y tế, “nhà an toàn” theo quy trình 72 giờ vàng để bảo vệ nạn nhân; xây dựng mạng lưới “nhà an toàn” vệ tinh như nhà tạm lánh quy mô nhỏ ở xã, phường, điểm an toàn cộng đồng…; truyền thông để nạn nhân biết mình được bảo vệ thông qua các hệ thống biển báo, poster tại bệnh viện, trường học; truyền thông qua mạng xã hội, KOL…
Theo ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng), sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ trẻ em không thể chỉ dừng lại ở kêu gọi tinh thần. Cần có thiết kế hệ thống rõ ràng với ba nhóm giải pháp cụ thể. Một là, xây dựng nghĩa vụ báo cáo bắt buộc có chế tài. Hai là, chuẩn hóa kỹ năng nhận diện cho các nhóm tiếp xúc trực tiếp. Ba là, kích hoạt mạng lưới địa chỉ tin cậy cộng đồng theo mô hình đã được chứng minh. “Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo nhân rộng các mô hình như “Ngôi nhà Bình yên”, “địa chỉ tin cậy”, “con nuôi công an xã” trong kết luận vào tháng 11/2025. Đây là định hướng đúng, nhưng cần có ngân sách, chuẩn mực hoạt động và cơ chế giám sát cụ thể để tránh tình trạng hình thức.
Nghiên cứu của Save the Children cho thấy hơn 30% mô hình “ngôi nhà an toàn”, “câu lạc bộ quyền trẻ em”, có thể bị đình trệ khi có thay đổi nhân sự hoặc nguồn tài trợ địa phương bị cắt giảm, đây là rủi ro thực tế cần được phòng ngừa thể chế”, ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh nêu quan điểm khi trả lời phỏng vấn truyền thông ngày 13/5/2026.











