Bài học từ cú ngã đau đớn của 'Hộ linh tráng sĩ'
Bộ phim có mức kinh phí kỷ lục của điện ảnh Việt đang đối mặt với khoản thua lỗ chưa từng có. Tác phẩm hiện thu về hơn 29 tỷ đồng, cách rất xa cột mốc hòa vốn.

Từ một dự án điện ảnh được kỳ vọng bậc nhất trong dịp lễ 2/9, Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh lại bị bủa vây những tranh luận khi trình làng. Tác phẩm huyền sử của Nguyễn Phan Quang Bình trở thành “tâm điểm” khen - chê cùng những ý kiến trái chiều về chất lượng phim, kịch bản cùng diễn xuất của dàn cast.
Tỷ lệ nghịch với tranh luận chính là doanh thu. Sau hơn 10 ngày chiếu, tác phẩm hiện ghi nhận con số hơn 29 tỷ đồng. Với tốc độ kiếm tiền hiện tại, phim được dự đoán sẽ gây thua lỗ cho nhà sản xuất.
Với mức kinh phí đầu tư hoành tráng bậc nhất của điện ảnh Việt, tính đến thời điểm hiện tại, Hộ linh tráng sĩ cũng đối diện cú ngã đau đớn nhất tại phòng vé trong năm nay.
Theo các chuyên gia, nhiều bài học được rút ra sau cú ngã của Hộ linh tráng sĩ. Không chỉ đạo diễn, ê-kíp của dự án huyền sử này, các nhà làm phim, sản xuất đang theo đuổi dòng phim lịch sử, chiến tranh… cũng tự nhìn vào và rút ra cho họ những kinh nghiệm nhất định để tránh đi vào “vết xe đổ”.
Lý do 'Hộ linh tráng sĩ' ngã ngựa
Trao đổi với Tri Thức - Znews, nhà nghiên cứu Nguyễn Anh Tuấn (Viện Văn hóa nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam) cho biết thành công hay thất bại của một bộ phim điện ảnh thông thường dựa trên hai yếu tố đánh giá: tác động xã hội và mức độ doanh thu.
Ở góc độ xã hội, bộ phim Hộ linh tráng sĩ tương đối thành công vì thực hiện hoàn chỉnh một dự án huyền sử, đầu tư mạnh về tạo hình, trang phục, hành động hay thiết kế bối cảnh.
Còn nhìn nhận góc độ doanh thu, rõ ràng phim của Nguyễn Phan Quang Bình chưa đáp ứng kỳ vọng.
"Chúng tôi tạm dựa trên công thức 5-3-2 để đánh giá mức độ thành công hay thất bại của một dự án điện ảnh, cụ thể đến từ chất lượng bản phim, chiến dịch tiếp thị, truyền thông và cuối cùng là thời điểm phát hành. Đầu tiên, về yếu tố tiếp thị, truyền thông, Hộ linh tráng sĩ có chiến dịch tương đối bài bản khi phủ dày đặc trên các hai phương thức là báo chí chính thống và mạng xã hội. Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu chiến dịch truyền thông của ê-kíp lại khá muộn. Vì vậy, tôi chấm phim đạt 2/3 điểm về khâu tiếp thị, truyền thông. Còn ở yếu tố thời điểm phát hành, phim ra mắt vào dịp lễ Quốc Khánh và có khoảng thời gian dài để thu hút khán giả tới rạp trong ngày 5 ngày nghỉ, nhu cầu giải trí cao. Tuy nhiên, dự án gặp đối thủ là Nghỉ hè gặp nghỉ hưu của Huỳnh Lập. Dự án này lại áp dụng chiến lược chiếu sớm trước một tuần và mang lại doanh thu, lượng khán giả, hiệu ứng mạnh. Do đó, tôi chấm 1,5/2 điểm về yếu tố thời điểm phát hành của Hộ linh tráng sĩ", ông Nguyễn Anh Tuấn nhận định.




Hộ linh tráng sĩ đầu tư mạnh vào bối cảnh, trang phục, đạo cụ và diễn viên.
Theo ông, yếu tố quan trọng nhất của một dự án điện ảnh là chất lượng bản phim, lại là điểm yếu nhất đối với tác phẩm đến từ Nguyễn Phan Quang Bình.
"Những phàn nàn, bàn luận của công chúng trên mạng xã hội những ngày qua cũng đã phản ánh phần nào về chất lượng bản phim. Về mặt diễn viên, sản xuất hay ngân sách phim đều ở mức ổn, nhưng điểm yếu của bộ phim lại thuộc về đạo diễn và kịch bản. Và đó là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự chưa thành công về mặt doanh thu của bộ phim", ông nhấn mạnh.
Chung quan điểm, Thạc sĩ Trần Minh Ngân, giảng viên khoa Nghệ thuật, Sân khấu & Điện ảnh của Đại học Văn Lang, cho rằng điện ảnh Việt đang ở giai đoạn phòng vé rất khó đoán. Ngay cả những đạo diễn có tên tuổi, những công thức từng được coi là an toàn, gần nhất có Đức Thịnh với Trùm Sò, hai lần đầu tư của Xuân Lan hay Chốt đơn đến từ Bảo Nhân và Nam Cito đều thua lỗ nặng trong hai năm qua. Trong bối cảnh đó, việc nhà sản xuất "đổ" 100 tỷ đồng vào một đề tài chưa có công thức thành công là chuyện phải cân nhắc rất kỹ càng.
"Hộ linh tráng sĩ có đề tài xứng đáng để thực hiện. Nhưng cách tiếp cận có thể khác: chia làm nhiều giai đoạn, làm quy mô vừa phải trước, xây dựng khán giả cho dòng phim này trong 3-5 năm rồi mới đến những dự án lớn. Bên cạnh đó, quy trình dựng phim cần phải có một khâu kiểm soát độc lập. Đạo diễn quá yêu tác phẩm của mình là chuyện tự nhiên, ai làm phim cũng vậy. Chính vì thế, người ta cần test screening, cần nhà dựng phim thứ hai, cần một producer đủ bản lĩnh để nói với đạo diễn 'anh phải cắt cảnh này'. Câu chuyện Johnny Trí Nguyễn kể về Dòng máu anh hùng năm 2007 rất đáng suy nghĩ: cùng một đạo diễn, cùng một dự án, bản dựng đầu bị chê tơi tả, sau khi dựng lại mới thành một trong những phim hành động Việt được nhớ nhất. Sự khác biệt nằm ở chỗ có người dám nói thật với đạo diễn - trước khi ra rạp, không phải sau", Thạc sĩ Trần Minh Ngân chia sẻ.
Bên cạnh đó, chuyên gia cho rằng việc ê-kíp công khai chỉnh sửa phim ngay trước ngày công chiếu là một quyết định dũng cảm và cho thấy tinh thần cầu thị. Song khi nhìn nhận ở một góc độ khác, điều này cũng gửi tín hiệu không tốt tới khán giả: phim này chưa hoàn thiện. Người bỏ tiền mua vé bản 155 phút sẽ cảm thấy họ bị coi như bản thử nghiệm. Điều này phần nào ảnh hưởng tới trải nghiệm của khán giả.
Sau cú ngã ngựa gây sốc của 'Hộ linh tráng sĩ'
Sau Hộ linh tráng sĩ, một loạt dự án phim có quy mô, đầu tư lớn thuộc dòng phim lịch sử, chiến tranh, cách mạng... lần lượt công chiếu, có thể kể tới như Cận kề cái chết (Bùi Thạc Chuyên); Mật mã Đông Dương (Trần Ka My), Đất đỏ (Lê Văn Kiệt), Nữ biệt động Sài Gòn (Hàm Trần), Vùng trời lửa (Lê Thanh Sơn)... Song thất bại đầu tiên của dự án có mức kinh phí lớn nhất lịch sử điện ảnh, trở thành cú sốc cho không chỉ ê-kíp thực hiện Hộ linh tráng sĩ, mà còn đối với những nhà làm phim theo đuổi dòng phim này. Thách thức đặt ra cho những dự án kể trên trong bối cảnh hiện tại rất lớn.

Theo chuyên gia, nhiều thách thức đặt ra cho các dự án điện ảnh về lịch sử, huyền sử của Việt Nam thời gian tới.
Trong đó, thách thức lớn nhất phải kể đến là niềm tin của nhà đầu tư đối với những dự án điện ảnh về lịch sử, huyền sử.
"Nhiều người trong giới phim đã nói với nhau rằng Hộ linh tráng sĩ đã tạo nên một tiêu chuẩn mới về đầu tư, thiết kế, tổ chức sản xuất đối với một dự án phim huyền sử cổ trang. Và sự thất thu về mặt doanh thu này khiến cho niềm tin của các nhà đầu tư đối với dòng phim lại tiếp tục gặp thử thách. Có lẽ nếu như thêm một số dự án nữa không thành công về mặt doanh thu thuộc thể loại này, sẽ rất khó để trong tương lai, những dự án phim thuộc thể loại lịch sử, huyền sử cổ trang được đưa vào sản xuất. Đấy là thách thức, khó khăn lớn nhất và cũng là bài học đau đớn nhất mà Hộ linh tráng sĩ đã để lại cho các nhà làm phim Việt Nam trong thời gian tới", nhà nghiên cứu Nguyễn Anh Tuấn chia sẻ.
Trong khi đó, Thạc sĩ Trần Minh Ngân cho rằng những dự án lịch sử, huyền sử Việt Nam vẫn luôn đối diện với hai áp lực: một bên là các nhà nghiên cứu, một bộ phận công chúng khắt khe về 'tính chính xác lịch sử'; một bên là yêu cầu của điện ảnh về kịch tính, xung đột, hư cấu. Ở các nền điện ảnh khác, phim huyền sử là khoảng thở cho phép sáng tạo bay bổng nhưng tại Việt Nam, điều này còn tương đối hẹp.
Thách thức tiếp theo đến từ việc điện ảnh Việt đang thiếu nghiêm trọng đội ngũ chuyên trách cho dòng phim này, về cả đạo diễn, biên kịch, công ty sản xuất.
"Mỗi phim lịch sử là một lần đơn thương độc mã. Trong khi ở Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, người ta có cả một hệ sinh thái: từ nhà nghiên cứu, cố vấn văn hoá, xưởng phục trang, tổ vũ đạo cổ, cho tới đội biên kịch chuyên phóng tác dã sử. Muốn có phim huyền sử tốt, phải xây được hệ sinh thái đó trước. Việc này trên 10 năm chứ không phải dừng lại ở 1-2 năm", Thạc sĩ Trần Minh Ngân nói.
Sau cú ngã ngựa phòng vé của Hộ linh tráng sĩ, các chuyên gia cho rằng nhà làm phim nên chú trọng lớn về kịch bản dự án. Phim có quy mô càng lớn, cấu trúc càng phải đơn giản, bám chặt vào một trục cảm xúc, tránh ôm đồm, tham lam. Bên cạnh đó, đạo diễn, nhà sản xuất phải chú trọng vào diễn viên, khâu truyền thông, marketing và quan trọng nhất là phải tổ chức test screening (chiếu thử) cho khán giả trung lập ít nhất hai vòng để kịp thời chỉnh sửa.
"Phim lịch sử, huyền sử là 'hạ tầng văn hóa', cần đầu tư dài hạn, không thể vì một dự án lỗ mà đóng băng cả thể loại. Hàn Quốc từng kiên trì chịu lỗ thập niên 2000 để biến dòng phim này thành vũ khí xuất khẩu văn hóa. Và Việt Nam cũng cần tư duy kiên nhẫn tương tự để phá vỡ vòng luẩn quẩn", chuyên gia nhấn mạnh.

