Bài toán nhân rộng mô hình lúa xanh, hiệu quả cao tại Ninh Bình
Mô hình canh tác lúa tại Ninh Bình bước đầu giúp giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận cho nông dân. Để nhân rộng, cần giải quyết bài toán quy mô ruộng đất, tổ chức sản xuất và đầu ra, với sự tham gia thực chất của doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ quan quản lý và nhà khoa học.

Cánh đồng thí điểm mô hình canh tác lúa hiệu quả cao, xanh và bền vững tại xã Nghĩa Sơn, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Ngọc Linh
Mô hình canh tác lúa hiệu quả cao, xanh và bền vững tại xã Nghĩa Sơn, Ninh Bình, vừa được Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình cùng Công ty cổ phần Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Nông nghiệp Xanh Việt Nam (VAG Group) tổng kết sau vụ Mùa 2026.
Trên diện tích 2,2 ha, mô hình sử dụng giống lúa LP5, áp dụng gieo sạ hàng cơ giới kết hợp vùi phân, quản lý dinh dưỡng theo nguyên tắc 4R và thử nghiệm phân bón cải tiến.
TS. Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia khoa học cao cấp của IRRI, cho rằng giá trị của mô hình nằm ở việc kết hợp các giải pháp phù hợp với điều kiện sinh thái và tập quán canh tác tại Đồng bằng sông Hồng, từ cơ giới hóa gieo sạ, vùi phân đến quản lý dinh dưỡng và tuần hoàn rơm rạ.
Với nhà khoa học, dữ liệu thu thập trực tiếp trên đồng ruộng chính là cơ sở để đánh giá hiệu quả sử dụng đầu vào, theo dõi sinh trưởng của cây lúa và hoàn thiện các thông số kỹ thuật trước khi mở rộng quy mô.
Theo số liệu theo dõi của mô hình, chi phí sản xuất giảm bình quân 23,6%, tương đương khoảng 9,3 triệu đồng/ha so với các phương thức canh tác phổ biến. Trong đó, chi phí gieo cấy giảm 68–77%, chi phí phân bón giảm 29–58%; lợi nhuận ròng tăng trên 5 triệu đồng/ha.

Ông Nguyễn Quang Trường, Tổng giám đốc VAG Group. Ảnh: Ngọc Linh
Với người trồng lúa, giảm chi phí là động lực trực tiếp để thay đổi tập quán canh tác. Ông Nguyễn Quang Trường, Tổng giám đốc VAG Group, cho biết qua đánh giá bước đầu, mô hình có thể giúp giảm 20–30% chi phí phân bón và khoảng 40% chi phí nhân lực.
“Điều quan trọng nhất để mô hình được nhân rộng là phải trả lời câu hỏi bà con nông dân có lợi gì khi áp dụng quy trình này. Hiệu quả và lợi nhuận thực tế của bà con mới là yếu tố quyết định,” đại diện VAG Group chia sẻ.
Tuy nhiên, ông Trường nhấn mạnh hiệu quả thực tế của nông dân mới là yếu tố quyết định việc có thể nhân rộng hay không. “Nếu nông dân tiết kiệm được chi phí và bảo đảm hiệu quả thì kể cả không có hỗ trợ, bà con vẫn sẵn sàng bỏ chi phí để thuê máy móc, sử dụng quy trình này.”
Hiện VAG đang kết nối các đối tác cung cấp giống, phân bón, máy móc và quy trình canh tác, đồng thời tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm. Doanh nghiệp cũng phối hợp với IRRI thử nghiệm xử lý rơm rạ để sản xuất phân hữu cơ. Quy mô hiện còn nhỏ, dưới 100 tấn, nhưng nếu tiếp tục hoàn thiện được quy trình, phụ phẩm sau thu hoạch có thể trở thành nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất nông nghiệp, thay vì bị bỏ phí.
Dù vậy, cần phân biệt hiệu quả tiết kiệm chi phí với kết quả giảm phát thải. Việc giảm lượng phân bón sử dụng, cơ giới hóa gieo sạ và tái sử dụng rơm rạ có thể góp phần giảm tác động môi trường, nhưng mức giảm cụ thể vẫn cần được đo đếm.
Ông Trường cho biết, doanh nghiệp đang phối hợp với các đơn vị theo dõi trên đồng ruộng; để đánh giá ở quy mô lớn hơn, cần có sự tham gia của các đơn vị tư vấn và thẩm định độc lập.
Nhân rộng mô hình lúa phát thải thấp tại miền Bắc còn vướng
Tại xã Hồng Phong, một địa phương lân cận Nghĩa Sơn, sản xuất lúa vẫn giữ vai trò chủ đạo với diện tích khoảng 1.519 ha. Tuy nhiên, theo ông Hoàng Quang Tuyến, Phó Chủ tịch UBND xã Hồng Phong, hiệu quả trồng lúa giảm sút, thiếu lao động và diện tích bỏ hoang có xu hướng tăng qua các vụ, khiến việc thu hút doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất lúa ngày càng khó khăn.

Ông Hoàng Quang Tuyến, Phó Chủ tịch UBND xã Hồng Phong, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Ngọc Linh
“Cái khó khăn của chúng tôi chính là nguồn lao động, cũng như hiệu quả trồng lúa đang ngày một giảm sút. Việc thu hút các nhà đầu tư, doanh nghiệp hay hợp tác xã tập trung vào sản xuất lúa ngày càng khó khăn. Diện tích bỏ hoang hàng vụ cũng tăng lên theo từng năm, từng vụ,” ông Tuyến chia sẻ với Mekong ASEAN.
Hồng Phong có lợi thế về truyền thống canh tác lúa và hệ thống hợp tác xã hoạt động tương đối hiệu quả. Theo ông Tuyến, nông dân địa phương cũng sẵn sàng tiếp nhận các tiến bộ về giống, phân bón và phương thức canh tác.
Trên cơ sở đó, xã dự kiến triển khai khoảng 700 ha mô hình canh tác lúa giảm phát thải, tiết kiệm nước trong vụ Xuân 2027, hướng tới tổ chức sản xuất tập trung và xây dựng chuỗi giá trị. Địa phương kỳ vọng việc áp dụng phương thức tưới tiết kiệm sẽ góp phần hạn chế tình trạng ngập úng trên đồng ruộng vào vụ mùa, vốn là một khó khăn trong sản xuất tại khu vực này.
“Chúng tôi đang cố gắng triển khai khoảng 700 ha trong vụ Xuân tới. Người dân cũng rất đón nhận mô hình này,” ông Tuyến cho biết.
Tuy nhiên, để đạt mục tiêu, xã cần thêm nguồn lực hỗ trợ ban đầu cho hợp tác xã và nông dân. Ông Tuyến cho biết hằng năm địa phương đều dành một phần kinh phí hỗ trợ các đơn vị triển khai mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nhưng nguồn lực còn hạn chế.
Phó Chủ tịch xã Hồng Phong cho rằng: “Việc hỗ trợ ban đầu rất quan trọng, cũng là bước để đồng hành cùng người dân. Chúng tôi hy vọng Nhà nước và tỉnh có thêm cơ chế hỗ trợ việc xây dựng, mở rộng các mô hình áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt trong sản xuất lúa.”
Một điểm đáng chú ý là Hồng Phong đã cơ giới hóa hoàn toàn khâu làm đất, trong khi tỷ lệ cơ giới hóa thu hoạch đạt khoảng 95% hoặc cao hơn. Theo ông Tuyến, điều kiện đồng ruộng bằng phẳng là lợi thế để tiếp tục đưa máy móc vào các khâu sản xuất khác. Dù vậy, cơ giới hóa riêng lẻ chưa đủ để hình thành vùng nguyên liệu đồng nhất.
Hiện trên cùng một cánh đồng, nông dân vẫn trồng nhiều giống khác nhau, thời điểm thu hoạch không đồng đều, gây khó khăn cho việc tổ chức sản xuất theo chuỗi. Vì thế, địa phương muốn tiến tới những cánh đồng tập trung, thống nhất giống và quy trình canh tác, gắn sản xuất với tiêu thụ.
Theo ông Nguyễn Quang Trường, vai trò của hợp tác xã được kỳ vọng sẽ điều phối từ cung ứng đầu vào, chuẩn bị máy móc đến thu hoạch và bao tiêu sản phẩm. Quy mô liên kết khoảng 20–50 ha sẽ thuận lợi hơn để tổ chức cơ giới hóa và áp dụng đồng bộ quy trình. Nếu mỗi hộ tiếp tục sản xuất theo cách riêng, doanh nghiệp khó kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và bảo đảm sản lượng cho khâu thu mua.
Từ góc nhìn của ông Mark Petry, Tham tán Công sứ Nông nghiệp tại Việt Nam và Campuchia thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), khu vực tư nhân giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa các kết quả nghiên cứu thành những giải pháp thiết thực cho nông dân.
Ông Mark Petry cũng nhấn mạnh các công nghệ phân bón cải tiến và cơ giới hóa gieo sạ kết hợp vùi phân có thể nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, giảm chi phí sản xuất và cải thiện thu nhập cho nông dân. Ông khuyến khích tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp Hoa Kỳ và đối tác Việt Nam để đưa những đổi mới đã được kiểm chứng vào thực tiễn.
Tuy nhiên, doanh nghiệp khó có thể tự giải quyết mọi khâu. Nhà khoa học cần tiếp tục hoàn thiện quy trình và đánh giá hiệu quả; cơ quan quản lý hỗ trợ tổ chức sản xuất, tháo gỡ những hạn chế về quy mô; hợp tác xã phải đủ năng lực điều phối, còn doanh nghiệp cần tạo được đầu ra ổn định. Sự phối hợp này càng quan trọng khi mô hình chuyển từ diện tích thử nghiệm sang hàng trăm hecta.
Nông dân phải thấy lợi ích, thị trường phải ghi nhận giá trị
Với người trực tiếp sản xuất, điều họ quan tâm trước tiên vẫn là giảm được bao nhiêu chi phí, có bớt công lao động và bảo đảm năng suất hay không.

Ninh Bình: Lúa giảm phát thải cần cơ chế hỗ trợ để nhân rộng
Bà Hoàng Thị Hằng, một nông dân tham gia mô hình thử nghiệm nói trên, cho biết gia đình bà có bốn mẫu ruộng. "việc đưa phương pháp sạ hàng vào, chúng tôi thấy giảm được công lao động và chi phí. Mong muốn là tiếp tục được áp dụng phương pháp này trong những vụ tới,” bà Hằng nói.
Theo bà, vào đầu vụ, chi phí thuê nhân công có thể lên tới 200.000 đồng/sào hoặc hơn. Trong bối cảnh lao động nông nghiệp ngày càng thiếu và nhiều người đã lớn tuổi, giảm công việc thủ công là nhu cầu thiết thực của các hộ trồng lúa.
Đối với doanh nghiệp, ông Trường cho biết tại Hợp tác xã Duy Xá, xã Hồng Sơn, Hà Nội, VAG đã triển khai liên kết với mức thu mua cao hơn khoảng 1.000 đồng/kg lúa tươi so với sản phẩm thông thường. Đây là tín hiệu cho thấy quy trình sản xuất có thể tạo thêm lợi ích cho người trồng lúa, song chưa đủ để khẳng định mức chênh lệch tương tự sẽ được duy trì trên thị trường.
Muốn phát triển gạo phát thải thấp thành một phân khúc hàng hóa, doanh nghiệp cần vùng nguyên liệu ổn định, quy trình canh tác thống nhất và khả năng truy xuất nguồn gốc. Quan trọng hơn, mức giảm phát thải phải được đo đếm đáng tin cậy để giá trị môi trường không chỉ nằm ở tên gọi hay thông điệp quảng bá.
"VAG sẽ tiếp tục hoàn thiện quy trình cùng IRRI, kiểm chứng trong vụ Xuân 2027 và xây dựng các điểm liên kết với hợp tác xã tại Ninh Bình," ông Trường chia sẻ
Ông Nguyễn Sinh Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình, cho biết thêm: "Tỉnh sẽ phối hợp với các đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp và nông dân để lựa chọn giải pháp phù hợp cho từng vùng”.

Lúa giảm phát thải cần cơ chế hỗ trợ để nhân rộng. Ảnh: Ngọc Linh

