Bản lĩnh cán bộ trước yêu cầu hành động - Kỳ 1: Từ 'dám' đến trách nhiệm: Bản lĩnh cán bộ được đo bằng việc làm
Bản lĩnh của người cán bộ nhiều khi được nhận ra từ những việc rất bình thường: một hồ sơ khó có người đứng ra xử lý, một kiến nghị kéo dài có người nhận trách nhiệm, một điểm nghẽn quen thuộc có người tìm cách tháo gỡ. Từ những năm đầu đổi mới đến Đại hội XIII và XIV, nội hàm của tinh thần “dám” ngày càng được phát triển đầy đủ hơn, gắn chặt với đổi mới, trách nhiệm, kỷ luật và lợi ích chung. Mọi cái “dám” cuối cùng đều phải quy tụ vào hành động có ích cho dân, cho nước. Giá trị của bản lĩnh vì thế nằm ở kết quả công việc, sự liêm chính và những thay đổi thực tế mà nhân dân có thể nhìn thấy, cảm nhận được trong đời sống hằng ngày.

Các đơn vị thi công huy động nhân lực, máy móc để đẩy nhanh tiến độ triển khai cao tốc Chợ Mới – Bắc Kạn. Ảnh: Nguyên Ngọc
Từ “7 dám” đến bản lĩnh hành động vì lợi ích chung
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (1). Cái “gốc” ấy trước hết nằm ở khả năng đưa đường lối, chính sách vào cuộc sống. Một chủ trương đúng vẫn có thể đi chậm khi người thực hiện thiếu trách nhiệm; một quy định còn khoảng trống vẫn có thể được xử lý phù hợp khi cán bộ hiểu đúng mục tiêu chính sách, nắm chắc pháp luật, sát thực tế và biết đặt việc chung lên trên sự thuận tiện của bản thân. Bởi vậy, chất lượng của bộ máy luôn gắn chặt với chất lượng của những con người đang vận hành bộ máy.
Tinh thần dám nghĩ, dám làm vì thế không phải sản phẩm riêng của giai đoạn hiện nay. Từ những năm đầu đổi mới, “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” đã được đặt thành một yêu cầu đối với cán bộ lãnh đạo. Thực tiễn đổi mới đất nước cũng gắn với nhiều cán bộ biết nhìn vào những điều đang diễn ra trong cuộc sống, nhận ra cách làm cũ không còn phù hợp và mạnh dạn tìm một cách làm tốt hơn. Những tìm tòi về cơ chế sản xuất, lưu thông, huy động nguồn lực, xây dựng hạ tầng hay tổ chức quản lý ban đầu nhiều khi xuất phát từ cơ sở, rồi qua thực tiễn được tổng kết thành kinh nghiệm và chính sách. Đây chính là quá trình nhận thức trở về với thực tiễn, được thực tiễn kiểm nghiệm và tiếp tục phát triển.

Cán bộ công an đến tận nhà hỗ trợ làm căn cước công dân cho người dân. Ảnh: TL
Đại hội XIII, XIV đã đặt yêu cầu ấy trong một hệ chuẩn mực đầy đủ hơn. Văn kiện xác định cần xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu, có tinh thần “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, đồng thời biết “đổi mới sáng tạo, đương đầu với khó khăn, thử thách và hành động vì lợi ích chung” (2) - được khái quát thành “7 dám”. Điều đáng quan tâm không nằm ở con số bảy, mà ở mối quan hệ bên trong giữa những yêu cầu ấy. Chúng tạo nên một quá trình vận động từ suy nghĩ đến hành động, từ hành động đến trách nhiệm, từ trách nhiệm cá nhân đến lợi ích chung.
Mọi thay đổi trước hết phải bắt đầu từ suy nghĩ. Song một suy nghĩ đúng chỉ nằm trong đầu người cán bộ thì chưa tạo ra chuyển biến nào trong đời sống. Vì vậy cần dám nói, nghĩa là có chính kiến, biết trình bày điều mình cho là đúng, biết phản biện những cách làm đã trở nên bất hợp lý.
Từ dám nói phải đi tới dám làm, bởi ý tưởng chỉ được kiểm nghiệm khi bước vào thực tế. Khi đã hành động thì phải dám chịu trách nhiệm, bởi quyền quyết định không thể tách khỏi trách nhiệm đối với hệ quả của quyết định. Đổi mới lại thường gặp sức ì của thói quen, gặp khó khăn khách quan hoặc va chạm với những lợi ích đã định hình; vì thế người cán bộ cần đủ sức bền để đi qua thử thách, biết điều chỉnh khi thực tiễn thay đổi nhưng không dễ dàng từ bỏ mục tiêu đúng.
Toàn bộ quá trình ấy cuối cùng phải quy tụ ở lợi ích chung. Đây là điểm xác định giá trị chính trị và đạo đức của cái “dám”. Dám nghĩ để mưu cầu lợi ích cá nhân không phải bản lĩnh của cán bộ cách mạng. Dám làm để đem lại lợi thế cho một nhóm thân quen càng không thể gọi là sáng tạo công vụ. Dám quyết định nhưng né tránh hậu quả cũng không phải tinh thần trách nhiệm. Cái “dám” chỉ mang ý nghĩa tích cực khi chủ thể hiểu rằng quyền lực mình đang sử dụng là quyền lực được nhân dân và tổ chức giao để giải quyết công việc chung.
Nghị định số 73/2023/NĐ-CP của Chính phủ đã thể chế hóa khá rõ tinh thần đó. Nghị định xác định “vì lợi ích chung” là “vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, cộng đồng, ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị, không vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và không có động cơ vụ lợi”(3). Quy định này có ý nghĩa rất thực chất, bởi nó đưa động cơ hành động vào trung tâm của cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ. Một quyết định có thể rất táo bạo nhưng giá trị của nó không nằm ở mức độ táo bạo; điều quan trọng là quyết định ấy xuất phát từ đâu, được chuẩn bị như thế nào và hướng tới lợi ích nào.

Hoạt động sản xuất tại các khu công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, tạo việc làm và nâng cao giá trị sản xuất trên địa bàn. Ảnh: Lăng Khoa
Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị đã xác lập chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Quy định số 144-QĐ/TW ngày 9/5/2024 tiếp tục đặt tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong hệ chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đến Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026, vấn đề được đặt ra ở một cấp độ sâu hơn: tinh thần dấn thân, đổi mới, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung được nhìn nhận như một phẩm chất cốt lõi gắn với trách nhiệm chính trị của cán bộ. Điểm đáng chú ý nằm ở sự chuyển dịch từ khuyến khích một số người tiên phong sang yêu cầu mỗi cán bộ phải thực sự có năng lực hành động trong phần việc mình được giao.
Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị đưa yêu cầu ấy trở về rất gần với tư tưởng và phong cách Hồ Chí Minh. Chỉ thị yêu cầu việc học tập phải chuyển mạnh sang thực hành, gắn với bản lĩnh chính trị, tư duy đổi mới, năng lực tổ chức thực hiện, đạo đức công vụ, kỷ luật và tinh thần phục vụ nhân dân; lấy sản phẩm, chất lượng, hiệu quả công việc cùng sự hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp làm thước đo(4) . Như vậy, bản lĩnh không thể được đánh giá chủ yếu qua thái độ hay lời nói; cuối cùng nó phải trở thành việc làm cụ thể, thiết thực.
Bản lĩnh được nhìn thấy từ những việc dân cần
Thái Nguyên năm 2026 cũng cho thấy một lát cắt đáng chú ý của tinh thần chủ động trong quản trị phát triển. Từ đầu năm tới nay, tổng vốn FDI thu hút vào các khu công nghiệp của tỉnh đã vượt 8 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay. Sang quý III, GRDP tăng 13,96%, đứng thứ hai cả nước; tính chung 9 tháng tăng 11,24%, đứng thứ 6 cả nước.
Những kết quả ấy dĩ nhiên không thể quy về một nguyên nhân hay một vài cá nhân. Điều đáng nói hơn là phía sau dòng vốn, nhà máy và tốc độ tăng trưởng luôn có phần việc của bộ máy: cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ hoàn thiện thủ tục, xử lý vướng mắc và biến quyết tâm phát triển thành công việc cụ thể. Ở đó, cái “dám” được đo bằng khả năng làm cho nguồn lực thực sự đi vào cuộc sống.

Đến giữa tháng 9-2026, tổng vốn FDI thu hút vào các khu công nghiệp của tỉnh đã vượt 8 tỷ USD. Trong ảnh: Một góc trung tâm tỉnh Thái Nguyên.
Ông Hà Văn Hữu, người dân xóm Nương Cao, xã Quân Chu, chia sẻ: Là một người dân, tôi nhận thấy điều đáng quý nhất ở cán bộ không phải là những lời nói hay, mà là cách giải quyết công việc hằng ngày. Thời gian qua, việc cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ và đổi mới phương thức phục vụ ở Thái Nguyên đã cho thấy những chuyển biến tích cực. Người dân có thêm điều kiện tiếp cận dịch vụ công thuận tiện hơn, theo dõi tiến độ giải quyết hồ sơ và phản ánh những khó khăn gặp phải. Điều chúng tôi mong muốn không chỉ là thủ tục được giải quyết nhanh, mà còn là sự tận tình, trách nhiệm của người thực hiện.
Bản lĩnh cán bộ không phải lúc nào cũng hiện lên trong những dự án lớn. Nhiều khi nó bắt đầu từ bộ phận tiếp nhận hồ sơ, cuộc tiếp dân hoặc một lần cán bộ xuống cơ sở. Một người cao tuổi chưa quen dịch vụ công trực tuyến có thể được chỉ đúng quy trình rồi tự xoay xở, nhưng cũng có thể được cán bộ dành thêm ít phút để hướng dẫn hoàn thành thủ tục; một hồ sơ chưa đủ điều kiện có thể được trả lại bằng một thông báo ngắn, nhưng cũng có thể được giải thích rõ còn thiếu gì, căn cứ nào và cần bổ sung ra sao để người dân khỏi đi lại nhiều lần. Cả hai cách có thể đều không trái quy định, nhưng cảm nhận của người dân về Nhà nước rất khác nhau.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(5) . Câu chữ giản dị nhưng đặt ra một yêu cầu hành động rất cao. “Lợi cho dân” đôi khi đồng nghĩa với việc người cán bộ phải nhận thêm phần khó, tìm hiểu sâu hơn, giải thích nhiều hơn, đối thoại với những ý kiến khác nhau hoặc chịu áp lực khi lựa chọn phương án chưa có tiền lệ. Đó chính là lúc phẩm chất chính trị chuyển thành đạo đức công vụ, còn đạo đức công vụ được kiểm nghiệm trong cách đối xử với công việc và con người.
Dám làm vì thế tuyệt nhiên không đồng nghĩa với làm liều. Người có bản lĩnh càng phải biết giới hạn của quyền lực, tôn trọng pháp luật, lắng nghe ý kiến chuyên môn và chấp nhận giám sát. Dám làm mà không dám chịu trách nhiệm dễ trở thành tùy tiện. Đổi mới nhưng bỏ qua cảnh báo có thể trở thành chủ quan. Quyết định vì lợi ích của một nhóm người không thể mang danh nghĩa sáng tạo. Bản lĩnh chân chính luôn gắn với liêm chính, bởi quyền lực càng lớn thì khả năng tạo ra hậu quả từ một quyết định sai càng lớn.
Nghị quyết số 24-NQ/TW vì thế đặt tinh thần sáng tạo trong quan hệ với kỷ luật, minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực. Đây là một cách tiếp cận rất cần thiết. Người có động cơ trong sáng, hành động vì lợi ích chung, tuân thủ quy trình được phê duyệt phải được nhìn nhận khác với người lợi dụng danh nghĩa sáng tạo để vụ lợi hoặc cố ý làm trái.
Càng phân định rõ hai trường hợp ấy, môi trường hành động càng lành mạnh. Đặt trong đời sống thường ngày, những tiêu chí tưởng chừng lớn lao ấy lại rất gần gũi. Một con đường được tháo điểm nghẽn, một dự án được xử lý đúng hạn, một hồ sơ giảm được một lần đi lại, một vụ việc ở cơ sở được giải quyết trước khi trở thành mâu thuẫn lớn đều là những kết quả mà người dân có thể cảm nhận.
Không phải cán bộ nào cũng có cơ hội đưa ra quyết sách lớn. Nhưng mỗi người luôn có phần việc của mình để thể hiện trách nhiệm. Người dân cũng không đòi hỏi cán bộ lúc nào phải làm điều to tát, phi thường. Họ cần người trả lời khi có câu hỏi, người nhận trách nhiệm khi công việc thuộc thẩm quyền, người biết giải thích khi chưa thể giải quyết và người cố gắng tìm phương án thay vì tìm lý do từ chối.
Từ “7 dám” đến trách nhiệm vì lợi ích chung, bởi vậy, không phải hành trình đi tìm thêm những cụm từ mới cho công tác cán bộ. Đó là quá trình đưa bản lĩnh về đúng giá trị thực của nó: dám nghĩ điều có ích, dám nói điều cần nói, dám làm việc phải làm, dám nhận trách nhiệm về phần việc của mình và biết đặt lợi ích của dân, của nước cao hơn sự an toàn riêng.
Khi cái “dám” được đo bằng việc làm như thế, bản lĩnh cán bộ sẽ bớt đi vẻ lớn lao của khẩu hiệu để trở thành một phẩm chất rất gần với cuộc sống, rất bình dị, nhưng cũng rất khó và rất đáng quý.
(Còn nữa)
[1] Hồ Chí Minh, 2011, Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.309.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.187.
[3] Chính phủ, 2023, Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Chính phủ về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, Hà Nội.
[4] Bộ Chính trị, 2026, Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới", Hà Nội.
[5] Hồ Chí Minh, 2011, Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.65.
