Bánh bèo 'lên ngôi'...

Sao lại 'lên ngôi'? Là bởi chén bánh bèo bé xíu, dân dã, vẫn hiện diện âm thầm trong đời sống hằng ngày của người dân xứ Quảng hàng mấy trăm năm, nay 'trỗi dậy' nhờ lớp trẻ gen Z quan tâm tới món ẩm thực bình dân này…

Nồi hấp bánh bèo bằng lò củi gợi bao ký ức thân thương. Ảnh: ANH QUÂN

Nồi hấp bánh bèo bằng lò củi gợi bao ký ức thân thương. Ảnh: ANH QUÂN

Thương phận bánh bèo

“Con quạ mà đậu chuồng heo/ Nó kêu bớ mẹ, bánh bèo chín chưa?”. Một bữa giữa chốn làng quê thanh bình, bất chợt nghe câu hát ru ai đó cất lên, mà thương cho phận bánh bèo. Dân dã như nhiều loại bánh làm từ bột gạo nhà quê đã đành, thêm cái từ “bánh bèo” dễ liên tưởng đến phận đời nổi trôi bèo bọt, giờ lại đem gắn với “quạ” và “chuồng heo”, thiệt không thể tả hết nỗi chạnh lòng! Rồi thương cái cảnh “Nợ treo mặc kệ nợ treo/ Em bán bánh bèo trả nợ nuôi anh”, nghe chừng cay đắng làm sao!

Đó là chưa nói, nhiều loại bánh khác làm từ gạo, nếp, được dâng cúng lên bàn thờ tổ tiên mỗi dịp giỗ chạp, lễ Tết, trong khi bánh bèo chưa một lần mang bổn phận thiêng liêng đó!

Trong suy nghĩ miên man về thân phận “bánh bèo” ấy, lần ngược về quá khứ, để thấy rằng, là loại thực phẩm làm từ gạo của nền văn minh lúa nước đất Việt, bánh bèo mang đậm nét chân chất, mộc mạc, dễ làm dễ ăn và luôn gắn với phận người nông dân lam lũ, nhất là ở xứ Quảng. Bởi không như chén bánh bèo xứ Huế vốn nhỏ nhắn, mỏng manh, trong trẻo, thêm thanh cảnh, dịu dàng với tôm giã chấy khô, hợp với yểu điệu thục nữ chốn cung đình, bước qua đèo Hải Vân một chút, bánh bèo xứ Quảng đầy đặn, chắc nịch hơn cùng lớp nhưn sền sệt, trộn lẫn giữa tôm, thịt heo, nấm tai mèo băm nhỏ và bột gạo pha loãng…

Kỹ thuật làm bánh bèo là: gạo được ngâm qua đêm, đem xay nghiền thành bột, pha với nước cho vừa trùng rồi múc từng vá nhỏ đổ vào những chiếc chén đất xinh xinh, đặt lên xửng hấp cách thủy chừng mươi phút thì nhấc ra, quét sơ một lớp dầu phụng đã tao lên mặt, sau đó chan nhưn cùng hành lá xắt nhỏ và đậu phụng giã dập trên cùng.

“Đổi ngôi” nhờ gen Z

Cái bánh bèo bao năm chân chất nơi làng quê, dành cho những bữa làm đồng, tụ bạ nơi quán nước nhỏ đầu đường hay nằm im lìm trong mủng kẹp bên hông, lâu lâu choàng dậy cùng tiếng rao của người bán rong dạo quanh lối xóm, sau này sang chút thì ra nơi ngõ hẻm phố thị, một ngày bất chợt được giới trẻ quan tâm.

Những chén bánh bèo bình dân thu hút lớp trẻ. Ảnh: ANH QUÂN

Những chén bánh bèo bình dân thu hút lớp trẻ. Ảnh: ANH QUÂN

Nhờ sự kết hợp giữa bản sắc truyền thống của món ăn với truyền thông hiện đại của gen Z - thế hệ “công dân số” đầu tiên, không chỉ làm sống lại ký ức của lớp người đi trước mà còn tạo dựng nên hình ảnh hấp dẫn cho món ăn bình dân trong đời sống hôm nay. Từ đó, cái bánh khiêm tốn, bỗng mạnh dạn “ra riêng”, hiện diện xôn xao trên không gian mạng và trong hàng quán nơi phố phường.

Ngang qua đường Núi Thành, phường Hòa Cường, Đà Nẵng vào mỗi sáng, nhiều người đi đường cảm nhận được “sức nóng” của quán nhỏ mang tên “Bánh bèo nóng” số 197. Gọi “bánh bèo nóng” bởi những chén bánh bèo được hấp chín trong nồi nghi ngút hơi khói rồi vớt ra, vẫn còn nóng hổi khi đến tay người ăn đang ngồi chật kín, lớp này thay lớp khác trên một đoạn vỉa hè nho nhỏ.

Trong khi đó, “Bánh bèo lò củi” ở một góc phố Cồn Dầu vẫn còn đậm chất quê giữa khu đô thị mới Hòa Xuân. Trong ánh nắng cuối chiều xiên qua hàng cây, trên một khu đất dựng tạm cái quán như bao quán nhỏ miền quê, ngọn lửa trong lò đắp bằng gạch và đất dường như đỏ thêm, tiếp cho làn khói trắng huyền hoặc phất phơ trên miệng nồi hấp bánh một hơi ấm đẫm vị xưa cũ. Trong những chiếc chén đất nho nhỏ, sứt mẻ góc cạnh, bên trên mặt bánh trắng đục là lớp nhưn sền sệt quyện mùi thơm của đậu phụng rang giã nhỏ và chén nước mắm chua ngọt thêm những lát ớt đỏ, xanh...

Giữ chút gì rất xưa

Giữa phố cổ Hội An, có một quán bánh bèo nép mình khiêm tốn trong hẻm nhỏ đường Phan Đình Phùng, giữ được chút “hoài cổ” trong món bánh dân dã này. Đó là khi hầu hết hàng quán bánh bèo bây giờ dùng chiếc muỗng kim loại nhỏ dài, thì bánh bèo Cô Tú lại dùng chiếc siêu đao bằng tre - hay còn gọi là dao tre, để ăn bánh. Cái cách dùng dao tre để ăn bánh bèo, không chỉ tiện lợi, mà còn phô diễn một triết lý văn hóa thấm đẫm trong món ăn của người dân xứ Quảng nói riêng và làng quê nước Việt nói chung. Đó là sự hòa quyện của thiên nhiên, từ hạt gạo và đậu phụng của cánh đồng đến con tôm miền sông nước và chén mắm thơm tho chắt lọc từ biển cả, từ chiếc chén đất vàng nâu đến rặng tre xanh… Ăn, như “thực dưỡng”, nuôi nấng con người lớn lên hài hòa trong lẽ cân bằng âm dương của tự nhiên; từ đó có ý thức hơn trong việc bảo vệ thiên nhiên.

Nhưng cái lạ “hơn người” nhờ giữ được nét đặc trưng bánh bèo xứ Quảng với nhưn sền sệt tôm, thịt heo, nấm tai mèo, hành lá… và cách ăn bằng dao tre như quán Cô Tú Hội An, cũng không thoát khỏi những biến tấu nhất định. Đó là trên lớp nhưn “truyền thống” còn có những sợi cao lầu chiên giòn tan vàng rụm thơm lừng cho vừa miệng lớp trẻ. Có nơi, đó là vụn bánh mì hay tóp mỡ rang giòn…

Dạo thêm một vòng đất Việt mới thấy, chén bánh bèo bé nhỏ, dù ở xứ Bắc lạnh giá hay miền Trung nắng gió đến vùng châu thổ phương Nam hiền hòa, luôn có những biến đổi theo vùng miền hay giao thoa với các nền văn hóa ẩm thực Đông - Tây, khi bước vào nền công nghiệp hiện đại hay giữa “cơn lốc” đô thị hóa. Nhưng dẫu có “dịch chuyển” thế nào đi nữa, bánh bèo cũng giữ được cốt cách của nền văn minh lúa nước, gắn với sự mộc mạc, chân chất vốn có của người nông dân…

Để rồi, giữa làng quê thanh bình hay hẻm phố bé nhỏ, dù để ăn chơi hay phục vụ cuộc mưu sinh, một ngày chén bánh đi từ lời ru thương phận bọt bèo, bỗng bừng sáng trong đời sống và cả trong thơ ca, thành gạch nối lòng người: “Hai ta ngồi quán bên đường/ Bánh bèo kết nối tơ duyên đôi lòng” (Bánh bèo - Quỳ Lê)…

ANH QUÂN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/banh-beo-len-ngoi-3326134.html