Bảo đảm an ninh nguồn nước
Mặc dù có hệ thống sông ngòi, hồ đập khá lớn, song trước tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và sự phụ thuộc lớn vào nguồn nước ngoại sinh, toàn tỉnh đang đối mặt với nhiều thách thức trong bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt và phát triển bền vững.

Công trình ngăn mặn, giữ ngọt trên sông Lèn khi đi vào vận hành sử dụng sẽ góp phần chống xâm nhập mặn từ biển vào sâu hệ thống sông Lèn.
Theo đánh giá của ngành chuyên môn, tổng lượng nước mặt trung bình nhiều năm trên địa bàn tỉnh hiện đạt khoảng 20 tỷ m3/năm. Tuy nhiên, trong số đó lượng nước nội sinh chỉ khoảng 9,7 tỷ m3, nước ngầm khoảng 0,3 tỷ m3, phần còn lại phụ thuộc vào nguồn nước từ Lào và các tỉnh lân cận chảy về. Điều này đồng nghĩa với việc nguồn nước phục vụ đời sống và sản xuất của tỉnh phụ thuộc đáng kể vào các dòng sông liên tỉnh, xuyên biên giới.
Nếu tính theo bình quân đầu người, lượng nước của tỉnh chỉ đạt khoảng 5.600m3/người/năm, thấp hơn nhiều so với mức bình quân cả nước khoảng 9.000m3/người/năm. Đáng chú ý, lượng nước nội sinh chỉ đạt khoảng 2.665m3/người/năm, còn lượng nước có thể chủ động khai thác chỉ ở mức 1.648m3/người/năm, thấp hơn ngưỡng 2.000m3/người/năm theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Nước quốc tế.
Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nước, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp. Qua nhiều giai đoạn đầu tư xây dựng, đến nay toàn tỉnh đã hình thành hệ thống hạ tầng thủy lợi khá quy mô với 2.524 công trình thủy lợi, gồm 610 hồ chứa, 1.023 đập dâng và 891 trạm bơm. Trong đó, hồ chứa nước Cửa Đạt là công trình quan trọng đặc biệt cấp quốc gia do Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý. Toàn tỉnh cũng có 14 công trình thủy điện đang vận hành. Những công trình này nhiều năm qua đóng vai trò quan trọng trong cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt dân sinh, phát điện và phòng chống thiên tai. Vào cao điểm mùa khô hàng nghìn ha lúa tại khu vực đồng bằng vẫn duy trì được nguồn nước tưới nhờ hệ thống hồ đập, kênh mương liên hoàn. Ở nhiều xã miền núi, các công trình cấp nước tự chảy đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống của người dân.
Tuy đã được đầu tư nhiều công trình thủy lợi, nhưng toàn tỉnh vẫn đang đối mặt với không ít áp lực trong bảo đảm an ninh nguồn nước. Thách thức lớn nhất hiện nay là sự phụ thuộc lớn vào nguồn nước ngoại sinh. Riêng lưu vực sông Mã, nguồn cấp nước chủ yếu cho tỉnh có tới 85% lượng nước là từ các tỉnh khác và nước ngoài chảy về, trong khi cơ chế phối hợp quản lý nguồn nước liên vùng, xuyên biên giới vẫn còn nhiều bất cập. Biến đổi khí hậu cũng khiến tình trạng thiếu nước ngày càng rõ hơn. Nguồn nước phân bố không đều giữa các mùa, mùa mưa chiếm tới 75 - 80% lượng nước cả năm, còn mùa khô chỉ khoảng 25 - 30%. Điều nghịch lý là mỗi năm có hơn 9,6 tỷ m3 nước mùa mưa chảy ra biển, nhưng đến mùa khô nhiều nơi lại thiếu nước sản xuất và sinh hoạt. Tại các địa phương ven biển, xâm nhập mặn diễn biến ngày càng phức tạp, nhiều thời điểm nước mặn lấn sâu vào nội đồng, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Trong khi đó, khu vực miền núi thường xuyên đối mặt với hạn hán cục bộ, lũ quét và sạt lở đất.
Theo ông Phạm Xuân Quý, Phó Chủ tịch Hội Khoa học thủy lợi Thanh Hóa, để bảo đảm an ninh nguồn nước, trước hết cần nâng cao nhận thức cộng đồng về sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước và an toàn hồ đập thông qua tuyên truyền, tập huấn thường xuyên. Cùng với đó, các quy hoạch liên quan đến tài nguyên nước cần được công khai để thuận lợi cho giám sát, quản lý và điều chỉnh khi cần thiết. Việc siết chặt quản lý khai thác cát sỏi lòng sông cũng rất quan trọng nhằm hạn chế sạt lở, bảo vệ hành lang thoát lũ. Bên cạnh đó, tỉnh cần sớm xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước, công trình thủy lợi và phòng, chống thiên tai phục vụ công tác dự báo, điều hành. Đồng thời ưu tiên sửa chữa, nâng cấp các hồ đập xuống cấp, đầu tư các công trình trọng điểm như đập Cẩm Hoàng, hồ Làng Giẻ, đập Chòm Mo và hệ thống ngăn mặn giữ ngọt tại các cửa sông ven biển. Bên cạnh đầu tư hạ tầng, phục hồi và bảo vệ rừng đầu nguồn vẫn là giải pháp lâu dài để tăng khả năng giữ nước, điều hòa dòng chảy và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan, việc chủ động bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước đang trở thành yêu cầu cấp bách. Đó không chỉ là giải pháp trước mắt để ứng phó với hạn hán, xâm nhập mặn hay thiên tai, mà còn là nền tảng bảo đảm cho sự phát triển ổn định, lâu dài của tỉnh trong thời gian tới.
Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/bao-dam-an-ninh-nguon-nuoc-288442.htm











