Bảo đảm chuẩn đầu ra: Trách nhiệm cốt lõi của mỗi cơ sở đào tạo

Bảo đảm chuẩn đầu ra là trách nhiệm cốt lõi của mỗi cơ sở đào tạo đối với sinh viên, xã hội và thị trường lao động.

Sinh viên ĐH Bách khoa Hà Nội. Ảnh: HUST

Sinh viên ĐH Bách khoa Hà Nội. Ảnh: HUST

PGS.TS Trần Trung Kiên - Trưởng ban Quản lý chất lượng, Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, chuẩn đầu ra là cam kết về kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người học cần đạt khi hoàn thành chương trình. Cam kết này phải được thể hiện xuyên suốt từ thiết kế chương trình, tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá đến công nhận tốt nghiệp và theo dõi kết quả sau tốt nghiệp.

Trách nhiệm trước hết thuộc về cơ sở đào tạo, được cụ thể hóa cho lãnh đạo trường, đơn vị chuyên môn, giảng viên và hệ thống bảo đảm chất lượng. Không thể chỉ giao trách nhiệm cho giảng viên ở khâu chấm điểm, cũng không thể xem việc đáp ứng tiêu chí kiểm định là bằng chứng duy nhất về chất lượng. Nhà trường cần trả lời được ba câu hỏi: sinh viên có đạt chuẩn đầu ra không; kết luận đó dựa trên minh chứng nào; và nhà trường làm gì khi phát hiện năng lực chưa đạt yêu cầu?

Do đó, cần chuyển từ tư duy chủ yếu kiểm tra việc tuân thủ quy trình sang quản trị dựa trên kết quả và minh chứng. Hệ thống bảo đảm chất lượng tốt không phải là hệ thống không có thiếu sót, mà là hệ thống có khả năng phát hiện vấn đề, xác định nguyên nhân, khắc phục và kiểm chứng mức độ cải tiến.

Nâng cao hiệu quả hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ

- Theo PGS, các trường cần tổ chức hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ như thế nào để theo dõi việc thực hiện chuẩn đầu ra, thúc đẩy cải tiến chất lượng đào tạo?

PGS.TS Trần Trung Kiên: Hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ chỉ phát huy tác dụng khi gắn trực tiếp với hoạt động quản trị và cải tiến đào tạo, thay vì trở thành một bộ máy hành chính chuyên lập báo cáo. Ở cấp chương trình, Hội đồng khoa học và đào tạo hoặc Hội đồng phát triển chương trình đào tạo cùng với đơn vị chuyên môn cần định kỳ rà soát sự phù hợp giữa chuẩn đầu ra chương trình, chuẩn đầu ra học phần, nội dung giảng dạy và phương pháp đánh giá. Ở cấp trường, đơn vị bảo đảm chất lượng cần xây dựng công cụ, hướng dẫn phương pháp, phân tích dữ liệu, theo dõi khắc phục và cung cấp thông tin độc lập cho lãnh đạo.

Mỗi vấn đề chất lượng được phát hiện cần gắn với người chịu trách nhiệm, thời hạn, nguồn lực và bằng chứng xác nhận kết quả. Việc cải tiến phải theo một chu trình liên tục: xác định mục tiêu, tổ chức thực hiện, đo lường kết quả, phân tích khoảng cách giữa thực trạng và yêu cầu chất lượng (gap analysis), triển khai biện pháp khắc phục và đánh giá lại hiệu quả. Nếu chỉ ghi nhận tồn tại mà không theo dõi việc xử lý, hệ thống khó tạo ra thay đổi thực chất.

Các trường cũng cần xây dựng hệ thống dữ liệu kết nối thông tin tuyển sinh, tiến trình học tập, kết quả đánh giá, thực tập, tốt nghiệp và phản hồi từ cựu sinh viên, nhà tuyển dụng. Dữ liệu phải được chuẩn hóa, cập nhật, kiểm tra độ tin cậy và phân tích theo chương trình, khóa học, học phần và nhóm năng lực. Công nghệ số không chỉ phục vụ tổng hợp báo cáo mà cần giúp phát hiện sớm biến động bất thường, chênh lệch giữa các lớp và hiệu quả của các biện pháp cải tiến. Đồng thời, văn hóa chất lượng phải khuyến khích báo cáo trung thực, bảo vệ tính độc lập chuyên môn và xem phát hiện bất cập là cơ hội cải tiến, không chỉ là căn cứ quy trách nhiệm hành chính.

PGS.TS Trần Trung Kiên.

PGS.TS Trần Trung Kiên.

- Có giải pháp nào để kiểm chứng độ tin cậy của kết quả đánh giá, theo PGS?

PGS.TS Trần Trung Kiên: Kiểm tra chéo và hậu kiểm giúp hạn chế đánh giá thiếu nhất quán, chấm điểm không tương xứng với năng lực hoặc điều chỉnh kết quả vì mục tiêu thành tích. Kiểm tra chéo nên tập trung vào học phần cốt lõi, học phần quyết định đối với chuẩn đầu ra, học phần có biến động kết quả đáng kể hoặc có chênh lệch lớn giữa các lớp và người chấm. Các hình thức có thể gồm chấm độc lập một phần bài thi, đối chiếu bài làm với rubric, rà soát đề thi và đáp án, hoặc tổ chức hội đồng đánh giá đồ án, khóa luận và dự án. Với năng lực thực hành, cần xem xét cả quá trình thực hiện, sản phẩm và khả năng giải thích, bảo vệ kết quả.

Hậu kiểm theo rủi ro là việc lựa chọn đối tượng, phạm vi và mức độ kiểm tra dựa trên khả năng xảy ra sai lệch và mức độ ảnh hưởng nếu sai lệch xảy ra. Tín hiệu rủi ro có thể bao gồm điểm số biến động bất thường, tỷ lệ không đạt quá thấp hoặc quá cao so với bối cảnh, đề thi chưa bao phủ chuẩn đầu ra, hồ sơ đánh giá thiếu minh chứng, điều chỉnh điểm không giải thích được hoặc dấu hiệu vi phạm liêm chính học thuật. Các tín hiệu này chỉ khởi đầu cho việc xác minh, không tự động chứng minh có sai phạm.

Nhà trường có thể phân tầng rủi ro thấp, trung bình và cao. Với rủi ro thấp, duy trì giám sát định kỳ và kiểm tra ngẫu nhiên. Với rủi ro trung bình, rà soát hồ sơ, đề thi, rubric và chấm kiểm tra mẫu. Với rủi ro cao, tổ chức xác minh chuyên sâu, sử dụng nhóm chuyên gia độc lập khi cần, mở rộng mẫu nếu phát hiện sai lệch có tính hệ thống và xác định người học có thể bị ảnh hưởng. Cần duy trì kiểm tra ngẫu nhiên song song với kiểm tra dựa trên cảnh báo để tránh bỏ sót vấn đề hoặc khiến đơn vị được kiểm tra có thể dự đoán hoàn toàn phạm vi hậu kiểm.

Quy trình hậu kiểm nên gồm: thu thập và phân tích dữ liệu; phát hiện tín hiệu; đánh giá mức độ rủi ro; xác minh bằng chứng; kết luận và xử lý; cuối cùng là kiểm tra lại hiệu quả khắc phục.

Kết luận phải phân biệt sai sót hành chính, hạn chế chuyên môn, bất cập trong phương pháp đánh giá và hành vi vi phạm. Nếu phát hiện vấn đề có tính hệ thống, trường cần xác định phạm vi ảnh hưởng và xử lý theo quy định, bảo đảm quyền giải trình của các bên và quyền lợi hợp pháp của người học.

Hậu kiểm không nhằm áp đặt một cách chấm điểm duy nhất hay điều chỉnh phân bố điểm cho đẹp. Các học phần có mục tiêu khác nhau có thể sử dụng công cụ đánh giá khác nhau; điều cần thống nhất là yêu cầu năng lực, tiêu chí, mức độ đạt chuẩn và nguyên tắc sử dụng minh chứng.

Rà soát phương pháp đánh giá dựa trên dữ liệu và chuẩn đầu ra

- Phương pháp đánh giá cần được rà soát, điều chỉnh như thế nào để đo lường đúng chuẩn đầu ra và phản ánh thực chất năng lực người học?

PGS.TS Trần Trung Kiên: Tôi cho rằng, rà soát đánh giá phải bắt đầu từ chuẩn đầu ra, không phải từ mong muốn đạt một tỷ lệ điểm hoặc xếp loại nhất định. Mỗi chuẩn đầu ra cần được cụ thể hóa thành năng lực có thể quan sát và đánh giá. Nếu chương trình yêu cầu sinh viên thiết kế hệ thống kỹ thuật, bài thi chỉ kiểm tra ghi nhớ lý thuyết là chưa đủ; cần có minh chứng về xác định yêu cầu, lựa chọn phương án, tính toán, phân tích giới hạn, xem xét an toàn và bảo vệ quyết định. Tương tự, năng lực thực nghiệm cần được đánh giá qua lập kế hoạch, sử dụng thiết bị, xử lý dữ liệu và giải thích kết quả.

Các cơ sở giáo dục cần xây dựng ma trận liên kết chuẩn đầu ra chương trình, chuẩn đầu ra học phần, hoạt động dạy học và công cụ đánh giá. Ma trận giúp nhận diện năng lực chưa được đánh giá đầy đủ, nội dung trùng lặp và học phần chịu trách nhiệm cung cấp minh chứng. Các tiêu chí đánh giá cần mô tả rõ các mức độ đạt được để giảng viên và sinh viên hiểu thống nhất về yêu cầu.

Dữ liệu như tỷ lệ không đạt, phân bố điểm, mức độ phân biệt của câu hỏi, độ nhất quán giữa người chấm, kết quả theo từng chuẩn đầu ra và sự tiến bộ của sinh viên có thể giúp phát hiện vấn đề. Tuy nhiên, không nên dùng một chỉ số đơn lẻ để kết luận. Tỷ lệ điểm cao có thể phản ánh năng lực tốt, nhưng cũng có thể liên quan đến đề thi chưa phù hợp; tỷ lệ không đạt cao có thể cho thấy sinh viên chưa đáp ứng yêu cầu, nhưng cũng có thể bắt nguồn từ sự thiếu thống nhất giữa dạy học và đánh giá.

Vì vậy, quyết định điều chỉnh cần kết hợp dữ liệu định lượng với rà soát chuyên môn, phân tích bài làm thực tế và phản hồi của giảng viên, sinh viên cùng các bên liên quan. Tùy nguyên nhân, giải pháp có thể là cải tiến nội dung giảng dạy, tăng thực hành, điều chỉnh cấu trúc đề thi, hoàn thiện rubric, tập huấn người chấm hoặc bổ sung cơ hội phản hồi và hỗ trợ học tập. Điều chỉnh phương pháp đánh giá không đồng nghĩa với hạ chuẩn đầu ra để phù hợp với kết quả hiện có. Nếu chuẩn đầu ra thực sự thiếu rõ ràng hoặc không còn phù hợp, việc điều chỉnh phải theo quy trình học thuật có căn cứ và có tham vấn các bên liên quan.

Sinh viên ĐH Bách khoa Hà Nội. Ảnh: HUST

Sinh viên ĐH Bách khoa Hà Nội. Ảnh: HUST

Không áp đặt tỷ lệ giỏi, xuất sắc; tăng cường trách nhiệm giải trình

- Nhà trường cần làm gì khi tỷ lệ sinh viên giỏi, xuất sắc biến động bất thường, để vừa không áp đặt cơ cấu xếp loại, vừa bảo đảm kiểm soát chất lượng và trách nhiệm giải trình?

PGS.TS Trần Trung Kiên: Trước hết, cần nhấn mạnh rằng, tỷ lệ sinh viên giỏi, xuất sắc không thể được sử dụng như chỉ tiêu bắt buộc cho các đơn vị chuyên môn hoặc giảng viên. Kết quả xếp loại còn phụ thuộc vào đầu vào, đặc điểm ngành học, thiết kế chương trình và hệ thống đánh giá. Vì vậy, so sánh tỷ lệ đơn lẻ không đủ để kết luận chất lượng. Áp đặt tỷ lệ có thể tạo sức ép nâng điểm hoặc hạn chế điểm cao nhằm đạt cơ cấu định trước, làm sai lệch thông tin và ảnh hưởng quyền lợi sinh viên.

Không áp đặt tỷ lệ không có nghĩa là buông lỏng kiểm soát. Nếu tỷ lệ điểm cao tăng nhanh bất thường, trường cần rà soát đề thi, thang điểm, chất lượng bài làm và mức độ bao phủ chuẩn đầu ra, chứ không tự động yêu cầu giảm điểm. Nếu tỷ lệ không đạt cao, cần tìm nguyên nhân và cải thiện quá trình đào tạo, không hạ chuẩn chỉ để nâng tỷ lệ tốt nghiệp.

Cần phân biệt chuẩn đầu ra là năng lực phải đạt, tiêu chí đánh giá là căn cứ đưa ra kết luận, còn phân bố điểm là kết quả thực tế của một nhóm người học; ba yếu tố liên quan nhưng không thể thay thế nhau.

Trách nhiệm giải trình là nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực, có căn cứ về chất lượng, hạn chế và biện pháp khắc phục. Các trường cần công bố phù hợp về chuẩn đầu ra, phương thức đánh giá, điều kiện tốt nghiệp và kết quả cải tiến, đồng thời bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cần có cơ chế tiếp nhận, xử lý kiến nghị về chấm điểm và công nhận kết quả với quy trình minh bạch, thời hạn rõ ràng và khả năng truy xuất. Kết quả hậu kiểm phải chuyển thành kế hoạch cải tiến có người phụ trách và được theo dõi đến khi hoàn thành.

Lãnh đạo trường chịu trách nhiệm về chính sách và nguồn lực; đơn vị bảo đảm chất lượng phân tích dữ liệu và theo dõi khắc phục; đơn vị đào tạo cung cấp minh chứng và giải trình chuyên môn; nhóm đánh giá độc lập xác minh các trường hợp rủi ro cao hoặc có xung đột lợi ích. Cơ quan quản lý có thể hỗ trợ bằng hướng dẫn chuyên môn, nâng cao năng lực và kiểm tra tập trung vào lĩnh vực có dấu hiệu bất thường, đồng thời tôn trọng quyền tự chủ học thuật và sự đa dạng giữa các chương trình.

- Xin cảm ơn PGS!

"Bảo đảm chuẩn đầu ra là trách nhiệm xuyên suốt của mỗi cơ sở đào tạo, không thể hoàn thành chỉ bằng báo cáo định kỳ hay chỉ tiêu thành tích. Các trường cần vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ dựa trên dữ liệu, thực hiện kiểm tra chéo và hậu kiểm theo rủi ro, rà soát phương pháp đánh giá theo chuẩn đầu ra và giải trình minh bạch về kết quả.

Khi sinh viên chưa đạt chuẩn, nhà trường phải cải thiện dạy học và hỗ trợ người học; khi kết quả cao, phải có bằng chứng xác thực; khi phát hiện sai lệch, phải chủ động khắc phục và chịu trách nhiệm. Chất lượng giáo dục đại học không nằm ở tỷ lệ sinh viên giỏi, xuất sắc, mà ở năng lực thực sự của người tốt nghiệp và niềm tin xã hội đối với văn bằng được cấp.

Bảo đảm chuẩn đầu ra vì thế vừa là nhiệm vụ quản lý chất lượng, vừa là cam kết về trách nhiệm học thuật, liêm chính và uy tín lâu dài của mỗi cơ sở đào tạo", PGS.TS Trần Trung Kiên.

Hiếu Nguyễn

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/bao-dam-chuan-dau-ra-trach-nhiem-cot-loi-cua-moi-co-so-dao-tao-post797178.html