Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 được thông qua cho thấy những vấn đề pháp lý sở hữu trí tuệ đã được điều chỉnh gần và sát thực tiễn hiện nay. Trong đó, việc định giá tài sản sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm đang là nội dung thu hút sự quan tâm của đông đảo dư luận, nhất là với giới khởi nghiệp liên quan đổi mới sáng tạo.

Chung quanh nội dung này, phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với Luật sư Đào Tiến Phong, Luật sư điều hành InvestPush Legal, Chuyên gia Pháp lý Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam.

Phóng viên: Việc Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam định hướng tài sản trí tuệ có thể được định giá, ghi nhận và sử dụng làm tài sản bảo đảm, theo ông có ý nghĩa như thế nào về mặt pháp lý đối với doanh nghiệp?

Luật sư Đào Tiến Phong: Theo tôi, việc Quốc hội thông qua Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 rất đáng hoan nghênh vì có nhiều nội dung rất tiến bộ nhằm theo kịp tình hình phát triển thực tiễn gần đây. Trong đó, việc định hướng tài sản trí tuệ có thể được định giá, ghi nhận và sử dụng làm tài sản bảo đảm mang ý nghĩa vô cùng to lớn đối với doanh nghiệp, thể hiện qua 3 khía cạnh trọng tâm sau:

Thứ nhất, nội dung này đã biến tài sản trí tuệ từ 1 dạng công cụ phòng thủ thành công cụ có thể làm đòn bẩy tài chính. Tại sao lại nói vậy, bởi vì thực tế trước đây, doanh nghiệp thường chỉ có thể dùng văn bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ như một rào cản pháp lý để chống lại hành vi sao chép, làm giả. Nhưng với quy định mới này, doanh nghiệp có thể mở rộng sang các hoạt động giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư và các hoạt động khác.

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

Đặc biệt, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi khuyến khích sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn hoặc thế chấp vay vốn theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp và tín dụng. Điều này đã đặt tài sản trí tuệ (nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng...) ngang hàng với các tài sản hữu hình (như máy móc, bất động sản) trong việc tạo ra thanh khoản và huy động vốn hợp pháp cho doanh nghiệp.

Thứ hai, quy định mới đã khơi thông hành lang pháp lý cho việc định giá và chuẩn hóa quản trị nội bộ. Để một tài sản vô hình có thể đem đi thế chấp hay góp vốn, trở ngại lớn nhất là làm sao để định giá. Nhằm giải quyết điểm nghẽn này, Luật đã quy định chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân Việt Nam xác định giá trị của quyền sở hữu trí tuệ để áp dụng vào các mô hình chuyển nhượng, chia sẻ và góp vốn. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng ưu tiên phát triển nền tảng số, cung cấp cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ. Về mặt pháp lý, điều này tạo ra một nguồn dữ liệu tham chiếu chính thống, minh bạch cho các tổ chức thẩm định giá và hệ thống ngân hàng khi thẩm định tài sản.

Hơn thế nữa, pháp luật đưa ra một yêu cầu pháp lý mang tính khuôn thước đối với doanh nghiệp: Nếu quyền sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng điều kiện để ghi nhận giá trị tài sản vào sổ kế toán (theo luật kế toán), doanh nghiệp bắt buộc phải lập danh mục riêng để quản trị nội bộ. Điều này buộc các doanh nghiệp phải chuyên nghiệp hóa việc kiểm kê, ghi nhận và quản lý "tài sản xám" của mình, tránh tình trạng thất thoát hay bỏ quên các tài sản vô hình có giá trị.

Thứ ba, tạo sự đồng bộ pháp luật để tháo gỡ tâm lý e ngại của các tổ chức tín dụng Trong quá khứ, các ngân hàng rất ngại nhận thế chấp bằng tài sản trí tuệ do thiếu quy định pháp lý liên thông. Việc Luật sở hữu trí tuệ chủ động dẫn chiếu việc khai thác, thế chấp tài sản trí tuệ để vay vốn phải tuân thủ đồng bộ với các quy định pháp luật về khoa học công nghệ, quản lý tài sản công, đầu tư, doanh nghiệp và tín dụng là một bước đi cực kỳ quan trọng. Sự đồng bộ này mang lại hành lang pháp lý an toàn, giúp các quỹ đầu tư và ngân hàng thương mại có cơ sở vững chắc để mạnh dạn cấp tín dụng dựa trên tài sản bảo đảm là tài sản trí tuệ.

Đối với tôi, các định hướng pháp lý này nếu biết khai thác sẽ thay đổi hoàn toàn tư duy quản trị tài sản của doanh nghiệp. Nó đặc biệt mang lại lợi thế cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, nơi mà tài sản vật chất có thể rất ít, nhưng khối tài sản trí tuệ lại vô giá. Pháp luật giờ đây đã chính thức mở đường cho họ đi, khuyến khích nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo.

Quốc hội thông qua Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 tại Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV.

Quốc hội thông qua Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 tại Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV.

Phóng viên: Theo ông, rào cản pháp lý lớn nhất hiện nay khi đưa tài sản trí tuệ trở thành tài sản bảo đảm là gì?

Luật sư Đào Tiến Phong: Tôi thấy Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 đã lường được các rào cản pháp lý cơ bản nên chủ động đưa ra các giải pháp để tháo gỡ và tôi mong rằng xã hội, đặc biệt là các tổ chức tín dụng sẽ cởi mở đón nhận nó.

Luật mới đã bổ sung chính sách của Nhà nước trong việc hỗ trợ tổ chức, cá nhân Việt Nam xác định giá trị của quyền sở hữu trí tuệ. Đặc biệt, Nhà nước sẽ ưu tiên phát triển nền tảng số, cung cấp cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ.

Cụ thể hơn, đầu tiên phải nói đến là rào cản về lượng hóa và định giá tài sản trí tuệ: Tài sản trí tuệ là tài sản vô hình, giá trị của nó biến động dựa trên khả năng thương mại hóa. Nếu không định giá được, ngân hàng sẽ không thể nhận thế chấp. Luật mới đã bổ sung chính sách của Nhà nước trong việc hỗ trợ tổ chức, cá nhân Việt Nam xác định giá trị của quyền sở hữu trí tuệ. Đặc biệt, Nhà nước sẽ ưu tiên phát triển nền tảng số, cung cấp cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ. Điều này cung cấp một nguồn tham chiếu dữ liệu chính thống giúp các tổ chức tín dụng có cơ sở vững chắc hơn khi định giá tài sản bảo đảm.

Luật quy định chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có trách nhiệm lập danh mục riêng để quản trị nội bộ đối với các trường hợp này.

Thứ hai, tôi nghĩ rào cản về việc ghi nhận tài sản trong sổ sách kế toán: Nhiều doanh nghiệp sở hữu khối tài sản trí tuệ rất giá trị nhưng lại gặp vướng mắc vì chúng chưa đáp ứng đủ điều kiện khắt khe để được ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán theo pháp luật về kế toán. Để gỡ vướng, Luật quy định chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có trách nhiệm lập danh mục riêng để quản trị nội bộ đối với các trường hợp này. Tôi thấy đây là một quy định rất hay và tạo điều kiện cho doanh nghiệp khá tốt.

Hiện nay, Luật mới đã quy định rõ ràng rằng Nhà nước khuyến khích sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn hoặc thế chấp để vay vốn theo sự đồng bộ với quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, tín dụng và các quy định pháp luật có liên quan khác.

Rào cản cuối cùng, theo tôi là sự thiếu đồng bộ giữa các lĩnh vực pháp luật: Việc thế chấp tài sản trí tuệ không chỉ dừng lại ở quy định của Luật Sở hữu trí tuệ mà còn cần cơ chế liên thông với luật tín dụng, luật doanh nghiệp. Hiện nay, Luật mới đã quy định rõ ràng rằng Nhà nước khuyến khích sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn hoặc thế chấp để vay vốn theo sự đồng bộ với quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, tín dụng và các quy định pháp luật có liên quan khác. Nhưng thực tế có lẽ cần thêm thời gian để hài hòa các lĩnh vực khác nhau.

Tổng Giám đốc WIPO Daren Tang khai mạc Đại hội đồng WIPO bằng lời kêu gọi các đại biểu tiếp tục nỗ lực biến sở hữu trí tuệ (IP) thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy việc làm, đầu tư, tăng trưởng doanh nghiệp và phát triển kinh tế, ngày 14/7/2022. (Ảnh: WIPO)

Tổng Giám đốc WIPO Daren Tang khai mạc Đại hội đồng WIPO bằng lời kêu gọi các đại biểu tiếp tục nỗ lực biến sở hữu trí tuệ (IP) thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy việc làm, đầu tư, tăng trưởng doanh nghiệp và phát triển kinh tế, ngày 14/7/2022. (Ảnh: WIPO)

Phóng viên: Hiện nay, việc sử dụng tài sản làm bảo đảm chịu sự điều chỉnh của nhiều luật khác nhau. Theo ông/bà, có tồn tại sự chồng chéo hoặc chưa thống nhất giữa pháp luật sở hữu trí tuệ, dân sự và ngân hàng trong vấn đề này hay không?

Luật sư Đào Tiến Phong: Xét trong mối tương quan giữa Luật Sở hữu trí tuệ với Bộ luật Dân sự 2015 và các quy định của ngân hàng trong việc cho vay, tôi không thấy sự chồng chéo, có chăng chỉ là sự chưa thống nhất chất nằm ở khâu thực tiễn áp dụng.

Cụ thể nhất là Bộ luật Dân sự 2015 đặt nền móng pháp lý chung, định hình bản chất tài sản của quyền sở hữu trí tuệ. Điều 105 và Điều 115 Bộ Luật Dân sự 2015 đã quy định rõ tài sản bao gồm "quyền tài sản", và giải thích rõ quyền tài sản bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Nhờ định nghĩa nền tảng này, quyền sở hữu trí tuệ hoàn toàn đủ tư cách pháp lý để trở thành tài sản bảo đảm (cầm cố, thế chấp) trong các giao dịch dân sự theo quy định chung.

Nay khi Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 đã định hình rõ việc tài sản trí tuệ có thể được định giá, ghi nhận và sử dụng làm tài sản bảo đảm, luật đã chủ động dẫn chiếu việc thế chấp vay vốn phải tuân theo "quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, tín dụng và quy định khác của pháp luật có liên quan". Việc dẫn chiếu này chính là minh chứng rõ nhất cho việc loại trừ hoàn toàn sự chồng chéo giữa các luật.

Về mặt quản trị rủi ro, pháp luật bắt buộc tổ chức tín dụng phải ban hành quy định nội bộ, trong đó phải có quy định về thẩm định tài sản bảo đảm, quản lý, giám sát tài sản bảo đảm phù hợp với đặc điểm của tài sản đó.

Về mặt quản trị rủi ro, pháp luật bắt buộc tổ chức tín dụng phải ban hành quy định nội bộ, trong đó phải có quy định về thẩm định tài sản bảo đảm, quản lý, giám sát tài sản bảo đảm phù hợp với đặc điểm của tài sản đó.

Còn đối với pháp luật ngân hàng, tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay đã được sửa đổi bổ sung cũng quy định rõ quyền tự chủ và định hình cơ chế thực thi. Thí dụ như tại Điều 15 trao quyền tự chủ cho tổ chức tín dụng và khách hàng hoàn toàn tự thỏa thuận về việc áp dụng hay không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay. Về mặt quản trị rủi ro, pháp luật bắt buộc tổ chức tín dụng phải ban hành quy định nội bộ, trong đó phải có quy định về thẩm định tài sản bảo đảm, quản lý, giám sát tài sản bảo đảm phù hợp với đặc điểm của tài sản đó.

Tổng thể lại 3 hệ thống luật này là tương hỗ nhau chứ không chồng chéo. Tuy nhiên vẫn có thể tồn tại sự chưa thống nhất trong thực tiễn áp dụng, nhất là các ngân hàng hiện nay có thể gặp khó khăn trong việc xây dựng quy trình thẩm định tài sản là quyền Sở hữu trí tuệ do thiếu dữ liệu thị trường.

Nhận thấy điểm nghẽn thực tiễn này, Luật Sở hữu trí tuệ 2025 đã bổ sung quy định Nhà nước sẽ ưu tiên phát triển cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ. Khi cơ sở dữ liệu này vận hành, nó sẽ cung cấp tham chiếu thực tế giúp các ngân hàng tự tin hơn trong việc giải ngân, thu hẹp khoảng cách giữa sự hoàn thiện của văn bản luật và thực tiễn thương mại.

Luật Sở hữu trí tuệ 2025 đã bổ sung quy định Nhà nước sẽ ưu tiên phát triển cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ. Khi cơ sở dữ liệu này vận hành, nó sẽ cung cấp tham chiếu thực tế giúp các ngân hàng tự tin hơn trong việc giải ngân, thu hẹp khoảng cách giữa sự hoàn thiện của văn bản luật và thực tiễn thương mại.

___________

Luật sư Đào Tiến Phong, Luật sư điều hành InvestPush Legal, Chuyên gia Pháp lý Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam

Phóng viên: Trong trường hợp tài sản trí tuệ được dùng làm tài sản bảo đảm, rủi ro pháp lý lớn nhất đối với tổ chức tín dụng hoặc bên nhận bảo đảm là gì, thưa ông?

Luật sư Đào Tiến Phong

Luật sư Đào Tiến Phong

Luật sư Đào Tiến Phong: Đúng là nếu dùng Tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm thì các tổ chức tín dụng hoặc bên nhận bảo đảm sẽ phải cân nhắc thêm dưới góc độ quản trị rủi ro. Khác với các tài sản hữu hình như bất động sản hay máy móc, sự tồn tại của tài sản trí tuệ phụ thuộc vào các điều kiện pháp lý rất nghiêm ngặt. Nếu các điều kiện này bị vi phạm, tài sản bảo đảm có thể đột ngột mất hoàn toàn giá trị pháp lý.

Thứ nhất là rủi ro pháp lý về việc văn bằng bảo hộ bị chấm dứt hoặc hủy bỏ. Theo Luật Sở hữu trí tuệ, tài sản của doanh nghiệp có thể bị chấm dứt hiệu lực bảo hộ nếu chủ sở hữu quên hoặc không nộp phí, lệ phí duy trì, gia hạn hiệu lực. Đặc biệt nguy hiểm đối với nhãn hiệu, nếu chủ sở hữu không sử dụng nhãn hiệu đó liên tục trong từ 5 năm trở lên (mà không có lý do chính đáng), văn bằng bảo hộ cũng sẽ bị chấm dứt. Bên cạnh điều này còn rủi ro Tài sản trí tuệ bị hủy bỏ hiệu lực nếu phát hiện người nộp đơn ban đầu đăng ký với dụng ý xấu, hoặc người nộp đơn thực chất không có quyền đăng ký đối tượng đó.

Rủi ro thứ hai là nghĩa vụ quản lý, giám sát và bảo toàn giá trị tài sản. Pháp luật Ngân hàng yêu cầu tổ chức tín dụng phải xây dựng quy định nội bộ về thẩm định, quản lý, giám sát tài sản bảo đảm cho phù hợp với đặc điểm của loại tài sản đó, đồng thời phải có biện pháp nhận dạng, kiểm soát và xử lý rủi ro trong quá trình cho vay. Tuy nhiên, tôi cho rằng việc giám sát này đối với Tài sản trí tuệ là cực kỳ khó khăn. Giá trị của Tài sản trí tuệ đôi khi gắn liền với uy tín kinh doanh và năng lực khai thác của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp kinh doanh sa sút, vi phạm pháp luật dẫn đến bị tẩy chay, thì giá trị của nhãn hiệu hay kiểu dáng công nghiệp cũng có thể lao dốc xuống bằng 0 ngay cả khi văn bằng bảo hộ vẫn còn hiệu lực.

Và cuối cùng là rủi ro pháp lý về tính thanh khoản khi xử lý tài sản bảo đảm. Mặc dù Bộ luật Dân sự quy định khi phát sinh nợ quá hạn, bên nhận thế chấp có quyền xử lý tài sản bảo đảm thông qua bán đấu giá hoặc tự bán, nhưng việc thanh lý Tài sản trí tuệ không đơn giản như thanh lý một ngôi nhà.

Chúng ta phải hiểu rằng các sáng chế hay kiểu dáng công nghiệp thường mang tính chuyên biệt rất cao, chỉ phù hợp với một dây chuyền công nghệ hoặc một ngành hàng nhất định. Do đó, khi doanh nghiệp vỡ nợ, việc ngân hàng tìm được người mua lại các tài sản vô hình này để thu hồi vốn là một rào cản rất lớn do thị trường giao dịch thứ cấp chưa phát triển mạnh.

Phóng viên: Với các quy định mới liên quan đến sản phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra, theo ông, việc xác định quyền sở hữu và giá trị pháp lý của các tài sản này sẽ đặt ra những vấn đề gì trong thực tiễn?

Luật sư Đào Tiến Phong: Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 đã có một bước tiến rất dài khi chính thức ghi nhận sự tồn tại của Trí tuệ nhân tạo (AI). Tuy nhiên, từ những quy định mang tính nguyên tắc này đi vào thực tiễn, dưới góc độ pháp lý, tôi cho rằng chúng ta sẽ phải đối mặt với 3 vấn đề thực tiễn vô cùng phức tạp trong việc xác định quyền sở hữu và giá trị pháp lý của tài sản do AI tạo ra:

Thứ nhất, bài toán hóc búa về việc xác định "Ai là chủ thể quyền?" Luật Sở hữu trí tuệ 2025 quy định: Chính phủ sẽ quy định chi tiết việc phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ trong trường hợp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được tạo ra có sử dụng AI. Quy định này cho thấy Luật mới chỉ mở cửa chứ chưa đưa ra đáp án cuối cùng, mà giao lại cho Chính phủ hướng dẫn và chúng ta phải chờ các Nghị định hướng dẫn chi tiết thôi. Trong dân sự, quyền dân sự được xác lập từ kết quả của "hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ".

Vậy thực tiễn sẽ đặt ra tranh chấp pháp lý gay gắt: Sản phẩm do AI tạo ra là kết quả sáng tạo của ai? Của kỹ sư lập trình ra AI, của người dùng đã nhập lệnh (prompt) để AI tạo ra tác phẩm, hay không thuộc về ai cả vì máy móc không phải là con người? Chừng nào Nghị định của Chính phủ chưa ra đời và quy định chi tiết, các doanh nghiệp sử dụng AI để tạo ra sản phẩm (như thiết kế, âm nhạc, mã code) sẽ đứng trước rủi ro pháp lý là không chắc chắn mình có quyền sở hữu hợp pháp đối với sản phẩm đó hay không.

Thứ hai, ranh giới mong manh giữa việc "Huấn luyện AI" và "Xâm phạm bản quyền" Pháp luật hiện hành cho phép tổ chức, cá nhân sử dụng văn bản và dữ liệu đã công bố hợp pháp để nghiên cứu, thử nghiệm và huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, Luật cũng đặt ra một điều kiện là việc này "không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu".

Nhưng vấn đề định lượng thế nào là "ảnh hưởng bất hợp lý" sẽ gây đau đầu cho các Tòa án. Thí dụ, nếu một công ty công nghệ nạp toàn bộ tranh của một họa sĩ nổi tiếng để huấn luyện AI, sau đó AI này tạo ra hàng loạt bức tranh có phong cách y hệt và bán với giá rẻ mạt, điều này có bị coi là ảnh hưởng bất hợp lý không? Việc chứng minh nguồn dữ liệu đầu vào của AI có vi phạm bản quyền hay không đòi hỏi năng lực giám định công nghệ cực kỳ cao trong thực tiễn tranh tụng.

Thứ ba, sự bấp bênh về giá trị pháp lý khi đưa tài sản do AI tạo ra vào giao dịch thương mại và thế chấp ngân hàng. Như chúng ta đã trao đổi ở trên, Luật Sở hữu trí tuệ khuyến khích việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, thế chấp vay vốn ngân hàng, và Bộ luật Dân sự cũng công nhận quyền sở hữu trí tuệ là quyền tài sản. Để một tài sản trí tuệ được ngân hàng nhận thế chấp hoặc được định giá để góp vốn, nó phải có "tình trạng pháp lý minh bạch". Nếu một sản phẩm do AI tạo ra gặp rủi ro bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ (do thiếu yếu tố sáng tạo của con người), hoặc dễ dàng bị bên thứ ba yêu cầu hủy bỏ hiệu lực, thì giá trị pháp lý của tài sản đó bằng không. Không một tổ chức tín dụng hay quỹ đầu tư nào dám nhận thế chấp hay định giá cao một tài sản vô hình mà quyền sở hữu của nó có thể bị đánh sập bất cứ lúc nào.

Phóng viên: Để tài sản trí tuệ thực sự trở thành một loại tài sản có giá trị pháp lý rõ ràng và có thể tham gia thị trường, theo ông, đâu là điều kiện tiên quyết cần được bảo đảm?

Luật sư Đào Tiến Phong: Để tài sản trí tuệ thực sự trở thành một loại tài sản có giá trị thực tế và tham gia sâu rộng vào thị trường giao dịch, theo tôi, điều kiện tiên quyết nằm ở hai điều kiện tiên quyết chính: Khả năng định giá được bằng tiền và Sự minh bạch trong xác lập, ghi nhận chủ quyền.

Thứ nhất, điều kiện mang tính bản chất là tài sản trí tuệ phải trị giá được bằng tiền. Dưới góc độ luật chung, quyền tài sản được định nghĩa rõ ràng là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Dù một sáng chế có tính đột phá đến đâu hay một nhãn hiệu được nhiều người biết đến thế nào, nếu không thể quy đổi chúng thành một con số tài chính cụ thể, thì tài sản đó không thể đem đi chuyển nhượng, góp vốn hay thế chấp ngân hàng. Chính vì vậy, Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành đã đưa ra định hướng tháo gỡ bằng việc bổ sung chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân Việt Nam xác định giá trị của quyền sở hữu trí tuệ để áp dụng vào các mô hình chuyển nhượng, chuyển giao và góp vốn. Đồng thời, Nhà nước ưu tiên phát triển nền tảng số, cung cấp cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ. Việc định giá được một cách khách quan chính là chìa khóa mở ra tính thanh khoản cho loại tài sản vô hình này.

Thứ hai, tính vững chắc pháp lý thông qua việc xác lập và ghi nhận tài sản. Đây là điều kiện khó khăn nhất. Thị trường không thể giao dịch một tài sản bấp bênh về mặt pháp lý. Đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp (như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu), quyền sở hữu chỉ được xác lập vững chắc trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Văn bằng bảo hộ chính là sổ đỏ, là giấy khai sinh chứng minh sự tồn tại hợp pháp của tài sản. Tiếp nối sự xác lập đó, doanh nghiệp đưa tài sản vào thị trường bắt buộc phải có cơ chế ghi nhận nội bộ. Pháp luật quy định chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có trách nhiệm lập danh mục riêng để quản trị nội bộ nếu các tài sản này chưa đáp ứng đủ điều kiện để ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán. Việc kiểm kê, quản trị minh bạch này giúp tài sản trí tuệ trở nên hữu hình trong mắt các quỹ đầu tư, đối tác kinh doanh và tổ chức tín dụng.

Trên đây là hai điều kiện tiên quyết chính mà tôi nghĩ không thể thiếu được khi muốn chuyển hóa chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Luật sư!

Tổ chức: HỒNG VÂN

Thực hiện: VIỆT HÀ-KIM DUNG

Trình bày: BẢO MINH

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/bao-dam-phap-ly-khi-chuyen-chat-xam-tri-tue-thanh-dong-von-tren-thi-truong-post958282.html