Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam: Cầu nối chặt chẽ giữa Nghiên cứu – Trưng bày - Công chúng

Nằm trên con đường mang tên nhà khoa học Nguyễn Văn Huyên, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (viết tắt là Bảo tàng) trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (viết tắt là Viện Hàn lâm) từ lâu đã trở thành địa chỉ quen thuộc của giới nghiên cứu và du khách trong, ngoài nước.

Không chỉ là nơi lưu giữ hiện vật, Bảo tàng còn đóng vai trò cầu nối đưa các kết quả nghiên cứu khoa học xã hội đến gần hơn với công chúng thông qua các cuộc trưng bày sinh động, mang tính trải nghiệm đầy tính sáng tạo để thu hút khách tham quan đến với Bảo tàng.

Từ nghiên cứu học thuật đến trải nghiệm sống động qua trưng bày, trình diễn di sản văn hóa

Với chức năng nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, giáo dục và giới thiệu đặc trưng văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam cùng một số quốc gia trên thế giới, Bảo tàng đã tổ chức nhiều hoạt động có sức lan tỏa lớn, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam luôn thu hút du khách bởi những trải nghiệm từ khoa học đến thực tế

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam luôn thu hút du khách bởi những trải nghiệm từ khoa học đến thực tế

Một trong những dấu ấn tiêu biểu là trưng bày “Cuộc sống ở Hà Nội thời bao cấp (1975-1986)” được khai mạc tháng 6 năm 2006. Đây không chỉ là một cuộc trưng bày chuyên đề mà còn trở thành một sự kiện văn hóa - xã hội đáng chú ý, đánh dấu bước ngoặt trong việc mạnh dạn tái hiện một giai đoạn lịch sử từng được xem là nhạy cảm.

Thông qua hàng trăm hiện vật đời thường như tem phiếu, xe đạp cũ, bếp dầu, đài cùng hình ảnh tư liệu và lời kể của chính người dân, trưng bày đã tái hiện chân thực đời sống của người dân đô thị Hà Nội trong thời kỳ bao cấp. Không gian ấy đã khơi dậy những ký ức sâu sắc đối với những người từng trải qua khó khăn, đồng thời mang đến cho thế hệ trẻ một cách tiếp cận lịch sử trực quan, giàu cảm xúc.

Hiệu ứng xã hội của trưng bày này được thể hiện qua lượng khách tham quan tăng vọt, biến Bảo tàng thành điểm đến không chỉ của du khách mà còn của công chúng đô thị tìm lại ký ức cá nhân và tập thể. Đối với thế hệ trẻ (thời điểm đó là thế hệ 8X), trưng bày này mang giá trị giáo dục lịch sử sống động, giúp họ hiểu hoàn cảnh dẫn đến Đổi mới. Quan trọng hơn, trưng bày đã góp phần thu hẹp khoảng cách thế hệ, khơi dậy sự đồng cảm và củng cố niềm tự hào về hành trình vượt khó của dân tộc Việt Nam.

Cảnh xếp hàng mua gạo trong Trưng bày “Cuộc sống ở Hà Nội thời bao cấp (1975-1986)” tạo cảm xúc và hiệu ứng xã hội mạnh mẽ

Cảnh xếp hàng mua gạo trong Trưng bày “Cuộc sống ở Hà Nội thời bao cấp (1975-1986)” tạo cảm xúc và hiệu ứng xã hội mạnh mẽ

Nói về Trưng bày, PGS.TS Lê Hải Đăng, Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cho rằng, đây là minh chứng sống động cho sức mạnh của những nghiên cứu chuyên sâu, khoa học xã hội khi gắn bó với đời sống thực tiễn, góp phần xây dựng bản sắc dân tộc thống nhất trong đa dạng. Trên các diễn đàn và báo chí sau này, trưng bày tiếp tục được nhắc đến; những cửa hàng, quán cà phê được trưng bày theo “trend” bao cấp đã chứng minh thành công tiêu biểu của Bảo tàng, góp phần thay đổi cách tiếp cận lịch sử trong bảo tàng học ở Việt Nam.

Theo lãnh đạo Bảo tàng, thành công này cho thấy khi các nghiên cứu khoa học xã hội của các Viện trực thuộc Viện Hàn lâm được gắn với đời sống thực tiễn, chúng có thể tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần định hình nhận thức xã hội và làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc.

Không chỉ dừng lại ở một trường hợp, nhiều trưng bày khác của Bảo tàng cũng cho thấy rõ hướng đi nhất quán: chuyển hóa tri thức nghiên cứu thành trải nghiệm trực quan.

Đồng bào Mông trình diễn Tết cổ truyền tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Đồng bào Mông trình diễn Tết cổ truyền tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Trưng bày “Cuộc sống đồng bằng sông Cửu Long: Câu chuyện của 6 cộng đồng” đã khắc họa sinh động đời sống của các dân tộc Việt, Chăm, Khơ-me, Hoa tại vùng Nam Bộ. Thông qua hàng trăm hình ảnh, hiện vật và phim tài liệu, trưng bày không chỉ tái hiện nền văn minh lúa nước mà còn làm nổi bật sự đa dạng sinh thái - văn hóa, phong tục, tập quán và lễ hội đặc trưng của các cư dân nơi đây. Trưng bày này diễn ra ở nhiều tỉnh thành đã góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn di sản vùng sông nước.

Trong khi đó, trưng bày “Đồ vải của người Thái ở tiểu vùng sông Mê Kông - Tiếp nối và biến đổi” lại là một cuộc khám phá chiều sâu văn hóa thông qua nghệ thuật dệt may. Những mẫu vải, kỹ thuật dệt và hoa văn đặc trưng không chỉ phản ánh bản sắc văn hóa mà còn cho thấy khả năng thích ứng của cộng đồng trước những biến đổi của đời sống hiện đại.

“Những cuộc trưng bày này chính là kết quả của thành tựu nghiên cứu khoa học của một đơn vị thuộc Viện Hàn lâm giúp các nghiên cứu không chỉ là những lý luận nằm im trong các cuốn sách, đề án... mà còn được thể hiện bằng thực thể có thể ngắm nghía, cảm nhận được câu chuyện đằng sau hiện vật thông qua nghệ thuật sắp đặt bằng ngôn ngữ trưng bày.

Điều này làm “sống” lại quá khứ, sống động các nghiên cứu, thậm chí tạo ra những tác động xã hội lớn mạnh, khi thu hút hàng trăm nghìn lượt khách, góp phần quan trọng khơi dậy niềm tự hào dân tộc, nâng cao ý thức cộng đồng và thúc đẩy đoàn kết dân tộc và phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập” - Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nhấn mạnh.

Du khách tham quan, khám phá bản sắc văn hóa Việt Nam tại Bảo tàng

Du khách tham quan, khám phá bản sắc văn hóa Việt Nam tại Bảo tàng

Khẳng định vai trò trong kỷ nguyên mới

Bên cạnh hoạt động trong nước, Bảo tàng còn tích cực tham gia các chương trình hợp tác quốc tế, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Một trong những cột mốc quan trọng là trưng bày “Việt Nam: Những cuộc hành trình của Con người, Tinh thần và Linh hồn” (2003 tại Mỹ, 2005 tại Việt Nam).

Hợp tác với Viện Smithsonian, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ, trưng bày này đã giới thiệu văn hóa Việt Nam đương đại một cách khá toàn diện, từ đời sống vật chất đến chiều sâu tinh thần và tâm linh. Đây là minh chứng cho ngoại giao văn hóa, góp phần thúc đẩy quan hệ Việt - Mỹ sau bình thường hóa, thu hút hàng triệu lượt xem và nhận được đánh giá cao từ giới chuyên môn và công luận trong và ngoài nước.

Khai trương phòng Hàn Quốc tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Khai trương phòng Hàn Quốc tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Gần đây, trưng bày “Văn hóa Hàn Quốc” (2022) tại Việt Nam và trưng bày nghệ thuật sắp đặt “Đồ chơi dân gian Việt: Sự kết nối” (2025) tại Hàn Quốc đã thu hút đông đảo giới trẻ, đặc biệt khi kết hợp trải nghiệm (thử trang phục truyền thống của Hàn Quốc - Hanbok, tương tác màn hình ứng dụng công nghệ), góp phần vào việc đổi mới hình ảnh Bảo tàng để tiếp cận gen Z, đồng thời thúc đẩy giao lưu văn hóa Việt - Hàn.

“Việc ứng dụng công nghệ, tạo không gian tương tác và cho phép công chúng trực tiếp trải nghiệm đã giúp Bảo tàng chuyển mình từ mô hình trưng bày tĩnh sang không gian văn hóa sống động. Những đổi mới này không chỉ giúp Bảo tàng tiếp cận hiệu quả hơn với thế hệ trẻ mà còn góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng” - PGS.TS. Lê Hải Đăng cho hay.

Không chỉ trưng bày hiện vật, công nghệ số cũng tạo thêm không gian tương tác và trải nghiệm thực tế cho du khách

Không chỉ trưng bày hiện vật, công nghệ số cũng tạo thêm không gian tương tác và trải nghiệm thực tế cho du khách

Vốn từ một phòng của Viện Dân tộc học thuộc Viện Hàn lâm,đến nay, Bảo tàng đã định hình một phong cách riêng: kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và trưng bày sáng tạo. Bảo tàng không chỉ là nơi lưu giữ ký ức mà còn là không gian đối thoại văn hóa, nơi quá khứ được “kích hoạt” để kết nối, lan tỏa với hiện tại.

Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, Bảo tàng tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, mở rộng hợp tác quốc tế và phát triển các hình thức trưng bày hiện đại. Những nỗ lực này góp phần bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam, đồng thời đưa di sản đến gần hơn với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Có thể thấy, hành trình của Bảo tàng không chỉ là nơi gìn giữ di sản, mà còn là quá trình chuyển hóa tri thức thành giá trị xã hội. Chính sự kết nối hiệu quả giữa nghiên cứu - trưng bày - công chúng đã làm nên sức sống bền vững của một thiết chế văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới.

QUỲNH HOA; ảnh: MAI PHƯƠNG

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/van-hoa/bao-tang-dan-toc-hoc-viet-nam-cau-noi-chat-che-giua-nghien-cuu-trung-bay-cong-chung-215787.html