Bảo tồn di sản hò khoan trong đời sống đương đại

Hò khoan là di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc trong đời sống tinh thần của người dân Đà Nẵng. Qua nhiều thế hệ, hò khoan trở thành giá trị văn hóa tinh thần của cộng đồng, góp phần gìn giữ ký ức và bồi đắp bản sắc văn hóa địa phương.

Việc duy trì hò khoan trong đời sống đương đại sẽ góp phần quan trọng vào quá trình bồi đắp bản sắc văn hóa và lưu giữ ký ức cộng đồng. Ảnh: H.X.H

Việc duy trì hò khoan trong đời sống đương đại sẽ góp phần quan trọng vào quá trình bồi đắp bản sắc văn hóa và lưu giữ ký ức cộng đồng. Ảnh: H.X.H

Loại hình diễn xướng độc đáo

Hò khoan đối đáp gắn liền với sinh hoạt lao động thường ngày cũng như trong đời sống văn hóa tinh thần bao đời nay của người dân Quảng Nam - Đà Nẵng. Nét đặc trưng là trong bố cục cuối các câu hò phải có ít nhất một vài cặp từ “hò khoan”. Có hai thể loại hò khoan đối đáp: Hò khoan đối đáp trên sông nước và hò khoan đối đáp trong sinh hoạt hội hè.

Theo nhà nghiên cứu Văn Thu Bích (Hội Văn nghệ dân gian thành phố Đà Nẵng), trước đây, làn điệu hò khoan đối đáp được ngân vang trên các dòng sông chảy ra cửa biển thuộc vùng duyên hải xứ Quảng. Nơi đây thường diễn ra cuộc hò giữa hai nhóm thanh niên nam nữ khi chèo thuyền chở khách hoặc chở hàng ngược xuôi trên sông, tình cờ gặp nhau hò qua lại, đối đáp vui vẻ.

Có khi người hát không phải là người chèo mà là khách trên hai chiếc thuyền chia thành hai phe hát đối đáp với nhau, lối hát này rất được yêu thích và khá phổ biến từ xa xưa. Chẳng hạn: “Nữ: À ơi! Ngó lên Hòn Kẽm, Đá Dừng/ Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi!/ Nam: À ơi!/ Thương cha nhớ mẹ thì về/ Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thì đừng/ Khoan hố hợi là hợi là hò khoan!”.

Hò khoan đối đáp đậm tính chất đặc trưng của xứ Quảng, thường được sử dụng với hình thức hò đối đáp, ứng đáp. Sinh hoạt dưới dạng thức từng tốp nam nữ hát với nhau ở sân vườn nhà của các gia đình sau những ngày thời vụ gặt hái, vụ mùa bội thu hoặc nơi đình làng trong những dịp hội hè đình đám của làng xóm hoặc của gia tộc.

Có khi qua các đêm hát hò khoan mà nhiều đôi nam nữ bén duyên nhân ngãi, thành đôi vợ chồng. Sinh hoạt diễn xướng của lối hát hò khoan trước đây khá phổ biến tại vùng nông thôn và ngay cả một số vùng sinh hoạt nông nghiệp tại Hòa Vang, Sơn Trà... đồng thời cũng hiện diện ở các tỉnh lân cận thuộc dải đất Nam Trung Bộ. Từ lứa tuổi thanh thiếu niên đến các bậc lão thành đều thuộc lòng những câu hát hò khoan do lời ca đơn giản, âm điệu dễ nhớ, dễ hát.

Biểu diễn hát hò khoan tại Lễ hội xuống đồng Hội An Đông năm 2026. Ảnh: HOÀNG LIÊN

Biểu diễn hát hò khoan tại Lễ hội xuống đồng Hội An Đông năm 2026. Ảnh: HOÀNG LIÊN

Tạo dựng môi trường diễn xướng mới

Hò khoan được duy trì trong đời sống đương đại sẽ góp phần quan trọng vào quá trình bồi đắp bản sắc văn hóa, lưu giữ ký ức cộng đồng và tái hiện thế giới quan - nhân sinh quan của cư dân vùng đất Đà Nẵng.

TS. Hoàng Thị Mai Sa (Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng) cho rằng, để phục dựng và bảo tồn sinh hoạt hò khoan một cách toàn diện, công tác sưu tầm cần được triển khai theo hướng điều tra diện rộng.

Trước hết, cần tiến hành điền dã có hệ thống trên phạm vi nhiều xã, phường thay vì chỉ tập trung vào một số điểm như Đại Lộc, Điện Bàn hay Hòa Vang... Các đoàn nghiên cứu nên mở rộng khảo sát đến những nơi từng ghi nhận sinh hoạt hò khoan trong quá khứ như Duy Xuyên, Quế Sơn, Thăng Bình hoặc các khu vực ven sông, ven biển.

Trong bối cảnh hiện đại hóa và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ tại Đà Nẵng, việc tạo dựng môi trường diễn xướng cho hò khoan trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm khôi phục sức sống xã hội của một di sản từng gắn bó mật thiết với đời sống cư dân miền Trung. Do đó, thành phố cần kiến tạo những “không gian mới” để hò khoan tiếp tục vận hành theo hướng tiếp cận phù hợp với xu thế bảo tồn di sản phi vật thể hiện nay.

Chính quyền các cấp nên đưa hò khoan trở lại các lễ hội truyền thống, sự kiện cộng đồng và sinh hoạt văn hóa địa phương. “Những không gian như lễ hội Bà Thu Bồn, lễ hội đình làng, hoặc các chương trình văn hóa – du lịch thường niên là cơ hội để tái lập môi trường diễn xướng mang tính cộng đồng, tạo điều kiện cho các nhóm nghệ nhân trình diễn và giao lưu.

“Bên cạnh đó, việc xây dựng các “sân khấu mở” tại không gian công cộng như phố đi bộ, công viên, bảo tàng văn hóa dân gian sẽ giúp hò khoan tiếp cận khán giả trẻ, từ đó tạo nên sự tiếp nhận tự nhiên trong đời sống đô thị”, TS. Hoàng Thị Mai Sa đề xuất.

Các thiết chế văn hóa cộng đồng cần tổ chức định kỳ câu lạc bộ hò khoan, lớp tập huấn cho thanh thiếu niên; đưa hò khoan vào chương trình giáo dục trong trường học cùng với dân ca bài chòi, tuồng; khuyến khích văn nghệ sĩ sáng tác, biểu diễn các tác phẩm mới dựa trên nền tảng chất liệu hò khoan. Qua đó hình thành lực lượng kế cận và nuôi dưỡng cảm hứng thực hành di sản.

Việc ứng dụng công nghệ số - ghi âm, số hóa tư liệu, xây dựng thư viện trực tuyến và truyền thông mạng xã hội, sẽ mở rộng môi trường tiếp cận, biến hò khoan thành một phần của đời sống đương đại chứ không chỉ là “ký ức văn hóa”. Có như thế, việc tạo dựng môi trường diễn xướng mới không chỉ là bảo tồn hình thức, mà còn khôi phục chức năng xã hội của di sản trong bối cảnh hiện đại.

ĐOÀN HẠO LƯƠNG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/bao-ton-di-san-ho-khoan-trong-doi-song-duong-dai-3337951.html