Bảo tồn thiên nhiên ngoài khu bảo tồn

Khi nói đến bảo tồn thiên nhiên, chúng ta thường nghĩ đến các vườn quốc gia hay khu dự trữ sinh quyển. Nhưng trên thực tế, hơn 90% diện tích đất liền của Việt Nam nằm ngoài các khu vực này. Nếu thiên nhiên tồn tại chủ yếu ở bên ngoài, thì cách tiếp cận bảo tồn hiện nay có đang bỏ sót phần quan trọng nhất?

Đồng lúa ở vùng đệm Vườn quốc gia Tràm Chim, nơi dừng chân của một số lượng rất lớn các loài chim di cư.

Đồng lúa ở vùng đệm Vườn quốc gia Tràm Chim, nơi dừng chân của một số lượng rất lớn các loài chim di cư.

Theo thống kê gần đây, tổng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên ở Đồng bằng sông Cửu Long xấp xỉ 81.000ha, chiếm khoảng 2% diện tích đất liền của vùng. Trên phạm vi cả nước, con số này vào khoảng 2,5 triệu ha, tương đương 7% diện tích đất đai.

Tháng 11/2024, Chính phủ phê duyệt Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia giai đoạn 2021-2030, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ các khu bảo tồn lên 9% diện tích đất liền và 3-6% diện tích vùng biển.

Ngay cả khi đạt được mục tiêu này, vẫn sẽ còn 91% diện tích đất liền và đến 94% diện tích biển nằm ngoài hệ thống khu bảo tồn. Điều đó cũng có nghĩa: dù chúng ta làm tốt đến đâu trong các khu bảo tồn, hiệu quả vẫn chỉ giới hạn trên một phần nhỏ lãnh thổ.

Trên thực tế, rất nhiều các loài sinh vật lại đang tồn tại ngoài ranh giới các khu bảo tồn. Đó cũng chính là nơi diễn ra hầu hết các hoạt động kinh tế-xã hội của con người.

Câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào để bảo tồn đa dạng sinh học trong không gian rộng lớn ấy, và mục tiêu của việc bảo tồn là gì?

Bên ngoài các khu bảo tồn, những loại hình sử dụng đất chiếm ưu thế là đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, đất công nghiệp và đô thị. Sông ngòi, kênh rạch và hệ thống giao thông tuy chiếm diện tích nhỏ hơn, nhưng lại đóng vai trò sinh cảnh quan trọng.

Trong đó, đất sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp là không gian giàu tiềm năng nhất. Chẳng hạn, các cánh đồng lúa quanh Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp không chỉ là nơi sản xuất mà còn là sinh cảnh quan trọng của chim di cư, và có thể là nơi sinh sống của đàn sếu đầu đỏ đang được phục hồi.

Tương tự, nếu được quản lý phù hợp, các đồn điền cây công nghiệp hay khu nuôi trồng thủy sản cũng có thể trở thành nơi cư trú của nhiều loài sinh vật. Với quy mô diện tích rất lớn, chỉ cần những cải thiện nhỏ về môi trường cũng có thể mang lại hiệu quả đáng kể.

Đô thị mà có nhiều công viên với cây cối xanh tươi, trên trời có nhiều chim, nhiều bướm, dưới sông có nhiều tôm cá, thì cũng là đô thị mà cư dân có được chất lượng sống cao, đơn giản là vì đất, nước và không khí ít bị ô nhiễm. Ruộng lúa mà có tôm cua, chim cá cùng sinh sống thì ruộng lúa đó phải an toàn cho người dân và cho môi trường.

Ruộng lúa cũng là nơi sếu đầu đỏ có thể sinh sống. (Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG SINH)

Ruộng lúa cũng là nơi sếu đầu đỏ có thể sinh sống. (Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG SINH)

Như vậy, bảo tồn đa dạng sinh học bên ngoài ranh giới các khu bảo tồn còn mang một sứ mệnh khác. Đó là việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người, cả ở vùng nông thôn và ở đô thị. Khi đó, đa dạng sinh học không chỉ đơn thuần là đối tượng được bảo vệ mà còn là chỉ báo cho chất lượng môi trường sống.

Bảo tồn không ranh giới thực chất là việc cải thiện môi trường sống cho con người, được đánh giá thông qua các chỉ báo từ sinh vật.

Bảo tồn không ranh giới đòi hỏi những công cụ khác với cách tiếp cận truyền thống. Một số biện pháp thực chất là những hoạt động đã và đang được thực hiện, được thể chế hóa bởi luật pháp. Vấn đề nằm ở chỗ mục tiêu phục hồi và bảo tồn đa dạng sinh học chưa được tích hợp vào các công cụ đó.

Ví dụ, Luật Bảo vệ môi trường quy định chặt chẽ các chỉ tiêu về đất, nước, không khí, nhưng hầu như không đề cập đến tiêu chí về đa dạng sinh học. Trong khi đó, các chỉ số kỹ thuật, dù chi tiết, vẫn mang tính trừu tượng. Một môi trường nghèo nàn về sinh vật thì khó có thể coi là môi trường có chất lượng tốt.

Ở nông thôn, các mô hình sản xuất sinh thái như lúa-tôm, lúa-cá-vịt, hay nuôi tôm dưới tán rừng ngập mặn đang chứng minh hiệu quả trong cải thiện môi trường. Việc phục hồi chất lượng nước ở sông ngòi, kênh rạch, hay thiết lập khu cấm khai thác thủy sản đều có tác động rõ rệt đến hệ sinh thái.

Ở đô thị, việc mở rộng mảng xanh và phục hồi hệ thống mặt nước gần với tự nhiên không chỉ tạo sinh cảnh cho sinh vật mà còn trực tiếp cải thiện đời sống người dân.

Một yếu tố then chốt là quy mô áp dụng. Chỉ khi các giải pháp được triển khai đủ rộng và đồng bộ, chúng mới tạo ra những thay đổi có ý nghĩa.

Hiện, khai thác quá mức và các hình thức khai thác hủy diệt vẫn là mối đe dọa lớn nhất đối với sinh vật, cả trong và ngoài khu bảo tồn. Các biện pháp xử phạt là cần thiết, nhưng chưa đủ. Về lâu dài, giảm nhu cầu tiêu thụ sinh vật hoang dã mới là giải pháp bền vững. Khi cầu giảm, cung ắt sẽ giảm theo.

Có mối tương quan rõ ràng giữa sự giàu có của một đô thị và sự hiện diện của các loài sinh vật trong không gian của đô thị đó. Ở quy mô lớn hơn, một quốc gia chỉ có thể phát triển bền vững khi môi trường của nó giàu sức sống.

Bảo tồn không ranh giới không phải là sự ban ơn cho thiên nhiên mà trước hết là để bảo vệ chính cuộc sống của chúng ta. Bảo tồn thiên nhiên, vì vậy, không thể chỉ nằm trong ranh giới của các khu bảo tồn. Nó phải bắt đầu từ chính những nơi chúng ta đang sống mỗi ngày.

Tiến sĩ TRẦN TRIẾT Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/bao-ton-thien-nhien-ngoai-khu-bao-ton-post957234.html