Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ sức mạnh văn hóa trong kỷ nguyên số (Kỳ 3)
Những năm gần đây, nhiều di sản văn hóa được hồi sinh, công nghiệp văn hóa từng bước hình thành, nhiều giá trị truyền thống đang được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ và nguồn lực phát triển. Tuy nhiên, làm thế nào để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực phát triển đất nước vẫn là yêu cầu lớn đặt ra trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã mở ra bước phát triển mới trong tư duy về văn hóa: không chỉ giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc mà còn chuyển hóa các giá trị văn hóa thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực quan trọng của phát triển đất nước. Đó cũng là con đường để tiếp tục củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng từ gốc rễ.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định "Văn hóa phải luôn soi đường, dẫn dắt và bồi đắp sức mạnh dân tộc", coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho tương lai và sức mạnh nội sinh của đất nước. Ảnh nguồn: TTXVN
Kỳ 3: Văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển
Không một quốc gia nào có thể phát triển bền vững nếu văn hóa chỉ dừng lại ở việc bảo tồn. Di sản có thể được gìn giữ, lễ hội có thể được phục dựng, nhiều giá trị truyền thống có thể được khôi phục, nhưng nếu những giá trị ấy không tiếp tục được sáng tạo, không tham gia vào phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ, giáo dục và đời sống xã hội thì văn hóa vẫn chưa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh của quốc gia.
Khi công nghệ làm thay đổi phương thức truyền bá thông tin và không gian số trở thành mặt trận mới của công tác tư tưởng và văn hóa, câu hỏi tiếp theo được đặt ra là làm thế nào để văn hóa không chỉ tạo nên sức đề kháng cho xã hội mà còn trở thành nguồn lực phát triển trong kỷ nguyên mới. Đây không chỉ là câu chuyện của lĩnh vực văn hóa mà còn là yêu cầu chiến lược đối với sự phát triển đất nước, bởi xét đến cùng, một nền tảng tư tưởng chỉ có thể bền vững khi được nuôi dưỡng bằng một nền văn hóa giàu sức sống, một hệ giá trị được kế thừa, phát triển và không ngừng sáng tạo.
Tinh thần đó được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị mới.: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước” [1, tr2]. Đây cũng là sự cụ thể hóa định hướng của Văn kiện Đại hội XIV của Đảng về phát huy cao nhất giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam, “phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước” [2, tr10]. Đó không chỉ là sự kế thừa tư duy xuyên suốt của Đảng về vai trò của văn hóa mà còn đánh dấu bước chuyển từ tư duy "bảo tồn và phát huy" sang tư duy "kiến tạo và phát triển", đưa văn hóa tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ, giáo dục, đối ngoại và Hội nhập quốc tế.
Từ bảo tồn đến kiến tạo giá trị văn hóa mới

Ứng dụng công nghệ số tại bảo tàng góp phần đổi mới phương thức giáo dục di sản, nâng cao trải nghiệm của công chúng và thúc đẩy sáng tạo văn hóa. Ảnh nguồn: Baochinhphu.vn
Nhìn từ góc độ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đây cũng là bước phát triển tất yếu của công tác tư tưởng và văn hóa trong giai đoạn mới. Nếu văn hóa là cội nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc và không gian số là mặt trận mới của công tác tư tưởng thì việc phát huy giá trị văn hóa để tạo nguồn lực phát triển chính là bước đi tiếp theo nhằm củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng một cách bền vững. Từ bảo tồn đến sáng tạo, từ gìn giữ đến phát triển, từ sức mạnh văn hóa đến sức mạnh quốc gia, đó không chỉ là hành trình phát triển của văn hóa Việt Nam mà còn là yêu cầu chiến lược để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.
Thực tế dễ nhận thấy là chưa bao giờ sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc ở Việt Nam đạt được nhiều thành tựu như hiện nay. Hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tiếp tục được bảo vệ, nhiều di tích lịch sử được tu bổ, tôn tạo; hàng loạt lễ hội truyền thống, làng nghề, nghệ thuật trình diễn dân gian được khôi phục; nhiều giá trị văn hóa Việt Nam được quốc tế ghi nhận. Văn hóa ngày càng hiện diện rõ hơn trong các chiến lược phát triển đất nước, từ quy hoạch đô thị, phát triển du lịch, giáo dục đến ngoại giao và hội nhập quốc tế.
Đó là kết quả của quá trình nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết số 33-NQ/TW năm 2014 đến Nghị quyết số 80-NQ/TW năm 2026, tư duy của Đảng về phát triển văn hóa không ngừng được bổ sung và phát triển. Nếu trước đây trọng tâm là xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì ngày nay, văn hóa được xác định là nền tảng, vừa là nguồn lực và động lực phát triển của đất nướctrong kỷ nguyên mới.
Sự thay đổi đó phản ánh một bước phát triển mới trong tư duy chiến lược. Văn hóa không còn được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ bảo tồn di sản hay tổ chức các hoạt động văn hóa đơn thuần mà đã được đặt vào trung tâm của quá trình phát triển quốc gia. Đây cũng là sự kế thừa tinh thần của Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 , tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và các văn kiện của Đảng qua nhiều kỳ đại hội: văn hóa phải đồng hành cùng chính trị, kinh tế và sự phát triển của đất nước, chứ không đi sau sự phát triển.
Thực tiễn cũng chứng minh, những địa phương biết phát huy giá trị văn hóa đều tạo ra lợi thế cạnh tranh mới. Nhiều di sản sau khi được bảo tồn đã trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn, tạo sinh kế cho người dân và góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Các làng nghề truyền thống từng đứng trước nguy cơ mai một đang từng bước hồi sinh nhờ kết hợp với du lịch, thương mại điện tử và thiết kế sáng tạo. Điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, thời trang, thiết kế, trò chơi điện tử, quảng cáo... từng bước hình thành thị trường, mở rộng không gian sáng tạo và đóng góp ngày càng rõ nét cho tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, nhìn một cách khách quan, khoảng cách giữa tiềm năng văn hóa và khả năng chuyển hóa thành nguồn lực phát triển vẫn còn rất lớn. Không ít di tích sau khi được đầu tư vẫn khai thác chưa hiệu quả; nhiều bảo tàng còn thiếu sức hấp dẫn đối với công chúng; nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống gặp khó khăn trong việc thu hút lớp công chúng trẻ; công nghiệp văn hóa phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước. Không ít sản phẩm văn hóa có giá trị vẫn chủ yếu tồn tại dưới dạng tài nguyên, chưa trở thành tài sản có khả năng tạo ra giá trị gia tăng và sức cạnh tranh quốc gia.
Chính từ thực tiễn đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy "bảo tồn để gìn giữ"sang "phát triển để kiến tạo". Đây không phải là sự thay đổi về câu chữ mà là bước chuyển trong tư duy phát triển. Nếu bảo tồn giúp lưu giữ những giá trị của quá khứ thì kiến tạo giúp những giá trị ấy tiếp tục sống trong hiện tại và tạo ra giá trị mới cho tương lai. Một di sản chỉ thực sự có sức sống khi trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo; một bảo tàng chỉ thực sự phát huy giá trị khi trở thành không gian giáo dục, trải nghiệm và đổi mới sáng tạo; một lễ hội chỉ có sức lan tỏa khi vừa gìn giữ được bản sắc vừa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của xã hội hiện đại.
Đó cũng là yêu cầu của Văn kiện Đại hội XIV khi nhấn mạnh nhiệm vụ phát huy cao nhất giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản sắc dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại để tạo động lực phát triển nhanh và bền vững. Phát triển văn hóa vì thế không chỉ là nhiệm vụ của ngành văn hóa mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và toàn xã hội.
Nhìn từ góc độ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đây cũng là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược. Một nền văn hóa chỉ dừng ở việc bảo tồn sẽ góp phần gìn giữ ký ức lịch sử và bản sắc dân tộc. Nhưng một nền văn hóa biết sáng tạo và không ngừng tạo ra giá trị mới sẽ góp phần bồi đắp niềm tin xã hội, khơi dậy khát vọng phát triển, củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng tinh thần vững chắc cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Đó chính là quá trình chuyển hóa văn hóa từ một lĩnh vực cần được bảo vệ thành một nguồn lực trực tiếp tham gia bảo vệ và củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới.
Nếu trong nhiều thế kỷ, việc lưu giữ và truyền bá các giá trị văn hóa chủ yếu dựa vào không gian vật lý như đình, chùa, bảo tàng, thư viện hay các hoạt động trình diễn trực tiếp thì ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, không gian văn hóa đang được mở rộng theo một cách chưa từng có. Công nghệ không làm thay đổi bản chất của văn hóa nhưng đang làm thay đổi cách con người tiếp cận, lưu giữ, sáng tạo và lan tỏa các giá trị văn hóa.

Ứng dụng công nghệ số tại bảo tàng góp phần đổi mới phương thức giáo dục di sản, nâng cao trải nghiệm của công chúng và thúc đẩy sáng tạo văn hóa. Ảnh nguồn: baotangphunu.com
Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết số 57-NQ/TW khi xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là
“đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới” [5, tr.1]. Đặt trong lĩnh vực văn hóa, tinh thần đó mở ra cơ hội để chuyển hóa kho tàng di sản đồ sộ của dân tộc thành nguồn dữ liệu số, thành tài nguyên sáng tạo và thành những sản phẩm văn hóa có giá trị gia tăng cao, phục vụ phát triển kinh tế, giáo dục, du lịch và quảng bá hình ảnh quốc gia.
Một trong những chuyển biến rõ nét nhất là quá trình số hóa di sản văn hóa. Nhiều di tích, hiện vật, bảo vật quốc gia, tư liệu Hán Nôm, mộc bản, châu bản triều Nguyễn và các loại hình di sản phi vật thể đang từng bước được số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu và kết nối trên các nền tảng số. Những giá trị vốn chỉ có thể tiếp cận trực tiếp tại một địa điểm nay có thể được giới thiệu đến công chúng trong và ngoài nước thông qua không gian mạng, góp phần mở rộng khả năng tiếp cận tri thức và lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam.
Cùng với đó, mô hình bảo tàng số đang tạo nên những thay đổi căn bản trong hoạt động bảo tồn và giáo dục di sản. Thay vì chỉ trưng bày hiện vật theo phương thức truyền thống, nhiều bảo tàng đã ứng dụng công nghệ quét ba chiều (3D), thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), trình chiếu đa phương tiện và trí tuệ nhân tạo để tái hiện không gian lịch sử, giúp người xem có những trải nghiệm trực quan và sinh động hơn. Công nghệ không thay thế giá trị nguyên gốc của hiện vật mà giúp hiện vật "kể câu chuyện" của mình bằng ngôn ngữ của thời đại số, đặc biệt đối với thế hệ trẻ.
Không chỉ bảo tàng, hệ thống thư viện cũng đang chuyển mạnh từ mô hình lưu trữ truyền thống sang thư viện số. Hàng triệu trang tài liệu, sách cổ, tư liệu nghiên cứu, báo chí và các bộ sưu tập quý hiếm được số hóa, tạo điều kiện để người dân, nhà nghiên cứu và học sinh, sinh viên tiếp cận tri thức mọi lúc, mọi nơi. Đây không chỉ là quá trình hiện đại hóa hoạt động thư viện mà còn góp phần gìn giữ lâu dài các giá trị tri thức của dân tộc trước nguy cơ xuống cấp của tài liệu gốc.

Các ngành công nghiệp văn hóa từng bước phát triển, góp phần chuyển hóa giá trị văn hóa thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực phát triển đất nước. Ảnh nguồn: bvhttdl.gov.vn
Trong lĩnh vực du lịch văn hóa, công nghệ số cũng đang tạo ra những phương thức trải nghiệm hoàn toàn mới. Thông qua bản đồ số, thuyết minh tự động đa ngôn ngữ, thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng du lịch thông minh, nhiều điểm đến văn hóa đã vượt qua giới hạn về không gian và thời gian để tiếp cận đông đảo du khách. Một di tích lịch sử không còn chỉ là nơi để tham quan mà trở thành một không gian tương tác, học tập và khám phá. Điều đó góp phần nâng cao giá trị của di sản, kéo dài thời gian lưu trú của du khách và gia tăng giá trị kinh tế từ văn hóa.
Đặc biệt, trí tuệ nhân tạo đang mở ra những khả năng mới trong nghiên cứu, bảo tồn và sáng tạo văn hóa. AI có thể hỗ trợ nhận diện, phục dựng hiện vật bị hư hỏng, số hóa tư liệu cổ, dịch thuật tài liệu lịch sử, xây dựng cơ sở dữ liệu di sản, hỗ trợ thiết kế triển lãm và phân tích nhu cầu của công chúng. Trong lĩnh vực nghệ thuật, AI cũng trở thành công cụ hỗ trợ sáng tạo âm nhạc, mỹ thuật, điện ảnh và thiết kế, tạo điều kiện để nghệ sĩ tiếp cận những phương thức biểu đạt mới. Tuy nhiên, AI chỉ thực sự phát huy giá trị khi được sử dụng trên nền tảng tôn trọng bản sắc văn hóa, quyền sở hữu trí tuệ và vai trò sáng tạo của con người.
Điều quan trọng cần nhận thức là công nghệ không thể thay thế văn hóa. Một thuật toán có thể tạo ra hàng nghìn hình ảnh, bản nhạc hay văn bản chỉ trong vài giây, nhưng không thể thay thế chiều sâu lịch sử, bản sắc dân tộc, cảm xúc và những giá trị nhân văn được kết tinh qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi trở thành công cụ giúp văn hóa lan tỏa mạnh mẽ hơn, tiếp cận đông đảo công chúng hơn và tạo ra nhiều giá trị mới cho xã hội.
Đó cũng là yêu cầu đặt ra trong quá trình phát triển văn hóa của Việt Nam hiện nay. Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa không phải là mục tiêu tự thân mà là phương thức để bảo tồn hiệu quả hơn, sáng tạo mạnh mẽ hơn và phát huy tốt hơn giá trị văn hóa dân tộc trong điều kiện mới. Khi công nghệ được đặt dưới sự dẫn dắt của văn hóa, khi đổi mới sáng tạo được nuôi dưỡng bằng bản sắc dân tộc và khát vọng phát triển, những giá trị truyền thống sẽ không chỉ được gìn giữ mà còn tiếp tục được tái sinh, lan tỏa và tạo ra nguồn lực mới cho đất nước.
Từ góc nhìn đó có thể thấy, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số không làm phai nhạt bản sắc văn hóa mà đang mở rộng không gian tồn tại và phát triển của văn hóa Việt Nam. Đây cũng là tiền đề quan trọng để văn hóa từng bước trở thành sức mạnh mềm của quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế và đóng góp trực tiếp vào sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW và Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Khơi dậy sức mạnh mềm, kiến tạo động lực phát triển đất nước

Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa tạo điều kiện để người dân tiếp cận di sản mọi lúc, mọi nơi, góp phần quảng bá hình ảnh, bản sắc văn hóa Việt Nam và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên số. Ảnh nguồn: bvhttdl.gov.vn
Trong thế kỷ XXI, sức mạnh của một quốc gia không còn được đo chỉ bằng quy mô dân số, tiềm lực kinh tế hay sức mạnh quân sự. Ngày càng nhiều quốc gia khẳng định vị thế bằng khả năng lan tỏa các giá trị văn hóa, chinh phục công chúng thế giới thông qua điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, thiết kế, thời trang, ẩm thực, trò chơi điện tử và các ngành công nghiệp sáng tạo. Văn hóa vì thế không chỉ là bản sắc của một dân tộc mà đã trở thành nguồn lực phát triển, năng lực cạnh tranh và sức mạnh mềm trong quan hệ quốc tế.
Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia châu Á cho thấy, đầu tư cho văn hóa chính là đầu tư cho tương lai. Hàn Quốc là một trong những ví dụ điển hình. Chỉ trong hơn hai thập niên, làn sóng Hallyu đã đưa K-pop, điện ảnh, truyền hình, thời trang, mỹ phẩm và ẩm thực Hàn Quốc vươn ra toàn cầu, tạo nên ảnh hưởng sâu rộng đối với hàng trăm triệu người. Thành công đó không chỉ mang lại doanh thu lớn từ xuất khẩu các sản phẩm văn hóa mà còn thúc đẩy du lịch, thương mại, giáo dục, đầu tư và nâng cao vị thế quốc gia. Điều đáng chú ý là phía sau sự phát triển của công nghiệp văn hóa Hàn Quốc là chiến lược quốc gia nhất quán, sự đầu tư dài hạn của Nhà nước và sự tham gia mạnh mẽ của khu vực doanh nghiệp.
Nhật Bản cũng lựa chọn con đường phát triển tương tự nhưng với cách tiếp cận riêng. Từ manga, anime, điện ảnh, trò chơi điện tử đến kiến trúc, thiết kế, thời trang và văn hóa ẩm thực, Nhật Bản đã xây dựng được một hệ sinh thái sáng tạo dựa trên nền tảng truyền thống. Những giá trị văn hóa lâu đời không bị đóng khung trong bảo tàng mà được chuyển hóa thành các sản phẩm hiện đại, tiếp cận giới trẻ trên toàn thế giới. Chính sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và đổi mới sáng tạo đã giúp văn hóa Nhật Bản trở thành một trong những nguồn sức mạnh mềm có ảnh hưởng sâu rộng nhất toàn cầu.
Trong những năm gần đây, Trung Quốc cũng đẩy mạnh chiến lược phát triển sức mạnh mềm thông qua công nghiệp văn hóa và công nghệ số. Điện ảnh, phim truyền hình, văn học mạng, trò chơi điện tử, nền tảng số và các sản phẩm văn hóa số được đầu tư với quy mô lớn, hướng tới xây dựng hệ sinh thái văn hóa có khả năng cạnh tranh quốc tế. Song song với đó, Trung Quốc chú trọng quảng bá ngôn ngữ, văn hóa truyền thống và hình ảnh quốc gia thông qua các chương trình giao lưu văn hóa, giáo dục và hợp tác quốc tế. Điều đó cho thấy, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, văn hóa đã trở thành một thành tố quan trọng trong chiến lược phát triển và nâng cao vị thế quốc gia.
Nhìn từ những kinh nghiệm đó có thể thấy, không quốc gia nào tạo dựng được sức mạnh mềm chỉ bằng việc bảo tồn di sản. Giá trị văn hóa chỉ thực sự tạo nên ảnh hưởng khi được chuyển hóa thành những sản phẩm có sức sống trong đời sống đương đại, có khả năng tiếp cận thị trường, chinh phục công chúng và tạo ra giá trị kinh tế. Nói cách khác, bảo tồn là nền tảng, còn sáng tạo mới là động lực để văn hóa tham gia trực tiếp vào phát triển đất nước.
Đối với Việt Nam, lợi thế về văn hóa là rất lớn. Hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo nên một kho tàng di sản phong phú với hàng chục di sản thế giới được UNESCO ghi danh, hàng nghìn di tích lịch sử, lễ hội truyền thống, làng nghề, nghệ thuật dân gian, tri thức bản địa và nền văn hóa giàu bản sắc. Đây là nguồn tài nguyên đặc biệt mà không phải quốc gia nào cũng có được.
Tuy nhiên, lợi thế văn hóa sẽ chỉ dừng lại ở tiềm năng nếu không được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển. Thực tế cho thấy, nhiều sản phẩm văn hóa Việt Nam đã bước đầu tạo được dấu ấn trên trường quốc tế, nhưng quy mô còn nhỏ, khả năng cạnh tranh chưa cao và thiếu những thương hiệu văn hóa có sức lan tỏa mạnh mẽ. Công nghiệp văn hóa tuy đã có những chuyển biến tích cực nhưng chưa thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; sự liên kết giữa văn hóa với khoa học, công nghệ, du lịch, giáo dục và kinh tế sáng tạo còn nhiều dư địa để phát triển.
Chính vì vậy, Nghị quyết số 80-NQ/TW không chỉ đặt ra yêu cầu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa mà còn nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa, xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, phát huy sức mạnh mềm của quốc gia và khơi dậy mạnh mẽ nguồn lực nội sinh từ văn hóa và con người Việt Nam. Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, đưa văn hóa từ vị trí là lĩnh vực phục vụ phát triển trở thành một trong những động lực trực tiếp của phát triển.
Quan điểm đó cũng thống nhất với Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới khi xác định đối ngoại văn hóa là một trong những trụ cột quan trọng góp phần nâng cao vị thế, uy tín và hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, mỗi sản phẩm văn hóa, mỗi tác phẩm nghệ thuật, mỗi bộ phim, mỗi cuốn sách, mỗi lễ hội hay mỗi di sản được quảng bá hiệu quả đều góp phần kể câu chuyện về đất nước, con người Việt Nam bằng ngôn ngữ của văn hóa, tạo dựng niềm tin, sự đồng cảm và sức hấp dẫn đối với bạn bè quốc tế.
Từ góc độ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, sức mạnh mềm của văn hóa không chỉ được đo bằng mức độ lan tỏa ra thế giới mà còn ở khả năng củng cố niềm tin của Nhân dân đối với những giá trị tốt đẹp của dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng phát triển và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Khi văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh của phát triển và sức mạnh mềm của quốc gia, nền tảng tư tưởng của Đảng cũng được bồi đắp từ chính những giá trị bền vững ấy. Đó là con đường phát triển mà nhiều quốc gia đã lựa chọn và cũng là định hướng chiến lược mà Đảng ta đang kiên định thực hiện trong kỷ nguyên phát triển mới.
Đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển không thể chỉ dừng ở những chủ trương hay những dự án đơn lẻ. Điều quan trọng hơn là phải hình thành một hệ sinh thái văn hóa hiện đại, nơi Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, doanh nghiệp là động lực đầu tư, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ là lực lượng sáng tạo, khoa học và công nghệ là công cụ hỗ trợ, còn người dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là người thụ hưởng các giá trị văn hóa. Chỉ khi các chủ thể đó được kết nối trong một hệ sinh thái thống nhất, văn hóa mới thực sự tạo ra sức lan tỏa và đóng góp trực tiếp vào sự phát triển đất nước.
Một trong những nền tảng quan trọng của hệ sinh thái đó là xây dựng cơ sở dữ liệu số về văn hóa và di sản. Trong nhiều năm qua, nhiều địa phương đã triển khai số hóa di tích, bảo vật quốc gia, thư tịch cổ, lễ hội truyền thống và các loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Tuy nhiên, phần lớn vẫn còn phân tán, thiếu tính kết nối và chưa hình thành được một hệ thống dữ liệu mở thống nhất. Trong kỷ nguyên số, dữ liệu văn hóa không chỉ phục vụ công tác quản lý mà còn trở thành nguồn tài nguyên quan trọng để nghiên cứu, giáo dục, phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch và đổi mới sáng tạo.
Từ nền tảng dữ liệu đó, các thiết chế văn hóa cũng cần được đổi mới theo hướng mở, thông minh và tương tác nhiều hơn với công chúng. Bảo tàng không chỉ là nơi lưu giữ hiện vật mà cần trở thành không gian trải nghiệm lịch sử và sáng tạo. Thư viện không chỉ là nơi đọc sách mà cần phát triển thành trung tâm chia sẻ tri thức số. Di tích lịch sử không chỉ phục vụ tham quan mà cần được kết nối với giáo dục, du lịch, nghiên cứu khoa học và các nền tảng công nghệ số để tạo ra những trải nghiệm mới cho người dân và du khách.
Sự phát triển mạnh mẽ của thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), trí tuệ nhân tạo và công nghệ số đang mở ra những phương thức hoàn toàn mới để tiếp cận văn hóa. Một người trẻ có thể tham quan Hoàng thành Thăng Long, Cố đô Huế hay Thánh địa Mỹ Sơn bằng không gian số; một học sinh ở vùng sâu có thể tiếp cận kho tư liệu quý của các bảo tàng quốc gia; một nhà nghiên cứu có thể khai thác hàng triệu trang tư liệu đã được số hóa mà không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý. Công nghệ đang góp phần xóa bỏ rào cản không gian, đưa văn hóa đến gần hơn với công chúng và mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức cho mọi tầng lớp nhân dân.
Bên cạnh đó, cần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp văn hóa và hệ sinh thái sáng tạo. Thực tiễn quốc tế cho thấy, sức mạnh mềm của một quốc gia không chỉ được tạo nên bởi các thiết chế công mà còn bởi những doanh nghiệp có khả năng sáng tạo và đưa văn hóa ra thị trường. Điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, mỹ thuật, thiết kế, thời trang, trò chơi điện tử, quảng cáo, nội dung số và các ngành công nghiệp sáng tạo khác không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn góp phần lan tỏa hình ảnh, bản sắc và giá trị văn hóa quốc gia. Đây cũng là lĩnh vực mà Việt Nam còn rất nhiều dư địa để phát triển khi sở hữu kho tàng văn hóa phong phú cùng lực lượng sáng tạo trẻ, năng động và giàu khát vọng.
Để hệ sinh thái đó vận hành hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế và chính sách phát triển văn hóa theo hướng khuyến khích đổi mới sáng tạo, tăng cường hợp tác công - tư, huy động các nguồn lực xã hội và phát triển thị trường văn hóa lành mạnh. Nhà nước cần tập trung đầu tư cho những lĩnh vực nền tảng như dữ liệu số, hạ tầng văn hóa, bảo tồn di sản, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp, văn nghệ sĩ, nhà khoa học và cộng đồng tham gia sáng tạo, đầu tư và phát triển các sản phẩm văn hóa có giá trị.
Điều quan trọng hơn cả là xây dựng con người Việt Nam trong thời đại số. Dù công nghệ phát triển đến đâu, dù trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ sáng tạo ở mức độ nào thì con người vẫn là chủ thể của văn hóa. Một xã hội chỉ có thể phát triển bền vững khi mỗi công dân có bản lĩnh văn hóa, ý thức công dân, năng lực số và khát vọng cống hiến. Chính con người là nơi kết tinh các giá trị truyền thống, tiếp thu tinh hoa nhân loại và sáng tạo nên những giá trị mới cho đất nước. Vì vậy, phát triển văn hóa trước hết phải bắt đầu từ phát triển con người, đúng như tinh thần xuyên suốt mà Đảng ta đã xác định.
Nhìn rộng hơn, kiến tạo hệ sinh thái văn hóa trong kỷ nguyên số không chỉ nhằm phát triển một ngành kinh tế hay mở rộng thị trường văn hóa. Mục tiêu lớn hơn là hình thành một không gian sáng tạo lành mạnh, nuôi dưỡng hệ giá trị quốc gia, khơi dậy khát vọng phát triển và củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Khi văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống, được hỗ trợ bởi khoa học, công nghệ và được vận hành trong một hệ sinh thái hiện đại, văn hóa sẽ không chỉ giữ vai trò nền tảng mà còn trở thành nguồn lực và động lực phát triển mạnh mẽ, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới.
Đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển của đất nước không phải là nhiệm vụ của riêng ngành văn hóa mà đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và toàn xã hội. Từ yêu cầu thực tiễn và tinh thần các nghị quyết mới của Đảng, có thể gợi mở một số định hướng trọng tâm sau:
Thứ nhất, xây dựng đồng bộ cơ sở dữ liệu văn hóa quốc gia, kết nối dữ liệu về di sản, bảo tàng, thư viện, nghệ thuật, lễ hội, di sản tư liệu và các ngành công nghiệp văn hóa trên nền tảng số thống nhất. Dữ liệu cần được chuẩn hóa, cập nhật thường xuyên và từng bước mở cho nghiên cứu, giáo dục, đổi mới sáng tạo và phát triển các sản phẩm văn hóa số.
Thứ hai, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, phát triển các nền tảng số mang bản sắc Việt Nam; đẩy nhanh số hóa di tích, bảo tàng, thư viện, di sản tư liệu và các loại hình nghệ thuật truyền thống; mở rộng ứng dụng trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo, thực tế tăng cường và dữ liệu lớn nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn, quảng bá và khai thác các giá trị văn hóa.
Thứ ba, ưu tiên phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo phục vụ tiếng Việt và văn hóa Việt Nam; hình thành các mô hình AI có khả năng xử lý ngôn ngữ, lịch sử, văn học, di sản và tri thức bản địa; đồng thời xây dựng các nền tảng nội dung số chất lượng cao để lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam trên môi trường mạng, góp phần nâng cao chủ quyền dữ liệu và chủ quyền văn hóa quốc gia.
Thứ tư, phát triển công dân số giàu bản sắc văn hóa, đưa giáo dục văn hóa, lịch sử, kỹ năng số, kỹ năng kiểm chứng thông tin và ứng xử văn minh trên không gian mạng trở thành nội dung quan trọng trong nhà trường, gia đình và xã hội. Mỗi người dân không chỉ là người tiếp nhận mà còn là chủ thể sáng tạo, gìn giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa trong môi trường số.
Thứ năm, hoàn thiện thể chế phát triển công nghiệp văn hóa, xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư vào điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, thiết kế, trò chơi điện tử, nội dung số, quảng cáo, thời trang và các ngành công nghiệp sáng tạo; đồng thời tiếp tục hoàn thiện pháp luật về dữ liệu, sở hữu trí tuệ, văn hóa số và bảo vệ bản quyền trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, tạo điều kiện để văn hóa thực sự trở thành một ngành kinh tế quan trọng của đất nước.
Đây không chỉ là những giải pháp phục vụ phát triển văn hóa mà còn là những điều kiện quan trọng để xây dựng sức mạnh mềm quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh, củng cố niềm tin xã hội và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn phát triển mới. Quan trọng hơn, đó là quá trình đưa văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực phát triển của đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, đồng thời tạo nền tảng tinh thần vững chắc để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới.
Xuyên suốt ba kỳ của loạt bài có thể thấy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số không còn chỉ được hiểu là đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng hay xử lý những biểu hiện lệch chuẩn về tư tưởng, văn hóa. Điều quan trọng hơn là phải xây dựng được một nền tảng tinh thần đủ vững chắc, một hệ giá trị đủ hấp dẫn, một đời sống văn hóa đủ phong phú để cái đúng, cái tốt, cái đẹp có sức lan tỏa mạnh mẽ, tạo nên “sức đề kháng” tự nhiên của xã hội trước những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa và môi trường số. Khi văn hóa trở thành nhu cầu tự thân của mỗi con người, khi các giá trị chân - thiện - mỹ được nuôi dưỡng trong gia đình, nhà trường, cộng đồng và trên không gian mạng, thì nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ được bảo vệ từ chính chiều sâu văn hóa của dân tộc.
Trí tuệ nhân tạo (AI) cùng các công nghệ số đang tạo ra những biến đổi sâu sắc đối với phương thức sáng tạo, lưu giữ, truyền bá và tiếp nhận các giá trị văn hóa. Nhiệm vụ đặt ra không chỉ là gìn giữ những giá trị truyền thống mà còn phải chủ động kiến tạo các giá trị văn hóa mới phù hợp với thời đại số. Văn hóa cần được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình phát triển, dẫn dắt việc ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo định hướng nhân văn, để vừa bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, vừa tạo ra các nguồn lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường sức mạnh mềm và khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Trong kỷ nguyên AI, lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia không chỉ được quyết định bởi năng lực làm chủ công nghệ mà còn bởi khả năng gìn giữ bản sắc, sáng tạo giá trị mới và chuyển hóa các giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển bền vững. Đó cũng là con đường để khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, bản sắc và khát vọng phát triển của Việt Nam trong một thế giới cạnh tranh ngày càng quyết liệt bằng tri thức, dữ liệu, công nghệ và văn hóa.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ sức mạnh văn hóa vì thế không phải là nhiệm vụ mang tính thời điểm mà là quá trình lâu dài, thường xuyên, gắn chặt với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đó là quá trình xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện; xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới; phát triển môi trường văn hóa lành mạnh; phát huy sức sáng tạo của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và toàn xã hội; đồng thời khai thác hiệu quả những thành tựu của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số để lan tỏa các giá trị tốt đẹp của dân tộc. Khi văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm của quốc gia, nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ có thêm điểm tựa bền vững từ chính niềm tin, khát vọng phát triển và sự đồng thuận xã hội.
Đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với những thời cơ lớn song cũng phải đối mặt với nhiều thách thức chưa từng có. Trong bối cảnh đó, càng cần nhận thức đầy đủ rằng sức mạnh của một dân tộc không chỉ được tạo nên bởi tiềm lực kinh tế, khoa học - công nghệ hay quốc phòng, an ninh mà còn được bồi đắp từ chiều sâu văn hóa, từ bản lĩnh của con người và từ niềm tin vào con đường phát triển đã lựa chọn. Xây dựng văn hóa, phát huy sức mạnh con người Việt Nam, kiến tạo sức mạnh mềm quốc gia và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là những nhiệm vụ tách rời mà là những trụ cột gắn bó hữu cơ trong một chiến lược phát triển thống nhất. Đó cũng chính là con đường để khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI theo tầm nhìn mà Đảng đã xác định.
HẾT.
Tài liệu tham khảo:
[1] Bộ Chính trị: Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026, Về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, tr.2-4.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.10, 89-95.
[3] Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, ngày 16/7/1998, Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
[4] Ban Chấp hành Trung ương khóa XI: Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014, Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
[5] Đảng Cộng sản Đông Dương: Đề cương về văn hóa Việt Nam, năm 1943.
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.458-462 (các bài viết, bài nói về vai trò của văn hóa đối với sự nghiệp cách mạng).
[7] Bộ Chính trị: Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024, Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tr.1-5.
[8] Bộ Chính trị: Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025, Về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
[9] Chính phủ: Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, ban hành kèm theo Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ.
[10] Chính phủ: Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, ban hành kèm theo Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ.
[11] Chính phủ: Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, ban hành kèm theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ.
[12] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và các văn bản hướng dẫn triển khai chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa.
[13] UNESCO: Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage, Paris, 2003; UNESCO Culture 2030 Indicators, Paris, 2019.
[14] UNESCO: Re|Shaping Policies for Creativity: Addressing Culture as a Global Public Good, Global Report, Paris, 2022.
[15] UNESCO: Recommendation on the Ethics of Artificial Intelligence, Paris, 2021.
[16] OECD: Recommendation of the Council on Artificial Intelligence, Paris, 2019 (cập nhật năm 2024).
[17] World Intellectual Property Organization (WIPO): World Intellectual Property Indicators 2024, Geneva, 2024.
[18] World Economic Forum: The Future of Jobs Report 2025, Geneva, 2025 (tham khảo xu hướng kỹ năng trong kỷ nguyên AI và kinh tế sáng tạo).
[19] UNCTAD: Creative Economy Outlook 2024, Geneva, 2024 (tham khảo về kinh tế sáng tạo và công nghiệp văn hóa).
[20] Joseph S. Nye Jr.: Soft Power: The Means to Success in World Politics, PublicAffairs, New York, 2004.
[21] Joseph S. Nye Jr.: Soft Power and Great-Power Competition, Project Syndicate, 2024 (tham khảo về sức mạnh mềm trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược hiện nay).
[22] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 và các báo cáo thường niên về công tác bảo tồn di sản, phát triển công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa.











