Bắt buộc truy xuất nguồn gốc với hàng rủi ro cao: 'Cơ hội cho doanh nghiệp, đừng để nước đến chân mới nhảy'
Theo chuyên gia, việc rút ngắn thời gian chuẩn bị tạo áp lực nhất định cho doanh nghiệp, nhưng đây là áp lực cần thiết. Doanh nghiệp nên nhìn quy định này như một cơ hội để chuẩn hóa lại dữ liệu, quy trình và phải làm sớm, chứ không chỉ là một thủ tục mới phải làm.
Như Tiếp thị & Gia đình đã thông tin, Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của Bộ. Theo đó, việc truy xuất nguồn gốc sẽ được áp dụng bắt buộc đối với các sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Đối với các sản phẩm, hàng hóa khác, thương nhân được khuyến khích thực hiện trên cơ sở tự nguyện.
Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, khi ấy, các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, kinh doanh và nhập khẩu thực hiện đăng ký tài khoản trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa của Bộ Công Thương, khai báo thông tin và nhận mã định danh sản phẩm. Từ ngày 1/1/2027, việc truy xuất nguồn gốc phải được thực hiện đầy đủ trước khi sản phẩm, hàng hóa thuộc diện áp dụng được đưa ra lưu thông trên thị trường. Các doanh nghiệp thành lập mới hoặc bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh sau thời điểm này cũng phải tuân thủ đầy đủ các quy định ngay từ khi đi vào hoạt động.
Liên quan đến vấn đề này, Tiếp thị & Gia đình đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Văn Quân, Chủ tịch Công ty CP Công nghệ Checkee. Ông Quân đã có những khuyến nghị rất quan trọng xoay quanh những nội dung mà doanh nghiệp cần chú ý.

Áp lực cần thiết nhưng cũng là “cơ hội” cho doanh nghiệp?
Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư, trong đó đẩy nhanh tiến độ hàng hóa bắt buộc truy xuất sớm 6 tháng so với các dự thảo trước. Ông đánh giá thế nào về “thông điệp” này?
Theo tôi, thông điệp rất rõ: truy xuất nguồn gốc không còn là việc làm tự nguyện hay làm cho đủ hồ sơ, mà đang chuyển thành yêu cầu bắt buộc đối với những nhóm hàng có rủi ro cao.
Việc rút ngắn thời gian chuẩn bị tạo áp lực nhất định cho doanh nghiệp, nhưng đây là áp lực cần thiết. Thị trường hiện nay không thể chỉ dựa vào niềm tin cảm tính. Hàng hóa muốn lưu thông minh bạch thì phải có dữ liệu rõ ràng: sản phẩm là gì, ai sản xuất, xuất xứ ở đâu, thuộc lô nào, đi qua những khâu nào và ai chịu trách nhiệm.
Doanh nghiệp nên nhìn quy định này như một cơ hội để chuẩn hóa lại dữ liệu và quy trình, chứ không chỉ là một thủ tục mới phải làm.
Đó cũng chính là nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên chính sân nhà trước khi vươn ra biển lớn trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay.
Đâu là những vấn đề mà doanh nghiệp cần phải lưu tâm để chấp hành tốt quy định tại Thông tư này?
Trước hết, doanh nghiệp cần xác định sản phẩm của mình có thuộc nhóm ngành hàng bắt buộc truy xuất hay không. Nếu thuộc diện bắt buộc thì phải chuẩn bị ngay từ bây giờ, không nên chờ đến sát thời điểm áp dụng. Và nếu không thuộc nhóm bắt buộc thì cũng khuyến khích nên chuẩn bị vì đây không còn là 1 quy định mà chính là 1 yếu tố nâng cao năng lực cạnh tranh.
Về thực tế triển khai, doanh nghiệp cần lưu ý 4 việc.
Một là định danh sản phẩm, mã lô, mã seri hoặc mã truy xuất phải rõ ràng.
Hai là dữ liệu sản phẩm phải có tối thiểu các thông tin cơ bản như tên sản phẩm, xuất xứ, hình ảnh, đơn vị sản xuất hoặc kinh doanh, địa chỉ, thương hiệu, số lô, hạn sử dụng, tiêu chuẩn áp dụng.
Ba là nếu dùng hệ thống nội bộ thì hệ thống đó phải có khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu với hệ thống của Bộ Công Thương.
Bốn là phải phân công người phụ trách cập nhật, kiểm tra và duy trì dữ liệu.
Điểm quan trọng nhất là dữ liệu phải được cập nhật trước khi hàng hóa đưa ra thị trường. Nếu chỉ làm mã QR nhưng dữ liệu không đầy đủ, không cập nhật, không có trách nhiệm kiểm soát thì vẫn chưa đạt yêu cầu.
Doanh nghiệp đi trước liệu có “thiệt thòi”?
Nhiều doanh nghiệp đã ưu tiên xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc từ sớm, vậy Thông tư này ra đời thì những doanh nghiệp này phải làm sao?
Những doanh nghiệp đã làm từ sớm đang có lợi thế rất lớn. Họ không phải làm lại từ đầu. Việc cần làm là rà soát hệ thống hiện có để xem dữ liệu, cấu trúc mã, cách định danh sản phẩm, khả năng lưu trữ, bảo mật và kết nối đã đáp ứng yêu cầu mới hay chưa.
Tôi khuyến nghị doanh nghiệp nên làm theo ba bước.
Bước một, đối chiếu dữ liệu hiện có với các trường thông tin bắt buộc.
Bước hai, chuẩn hóa lại mã sản phẩm, mã lô, mã truy xuất và các sự kiện trong chuỗi cung ứng.
Bước ba, kiểm tra khả năng kết nối kỹ thuật, đặc biệt là kết nối API nếu doanh nghiệp dùng hệ thống riêng.
Doanh nghiệp đã đầu tư sớm thì không nên xem Thông tư là gánh nặng. Đây là thời điểm để nâng cấp hệ thống từ “có truy xuất” sang “truy xuất đúng chuẩn, có thể kết nối và có giá trị quản trị”, và như tôi chia sẻ ở trên, đây chính là 1 cơ hội mà những người đi trước sẽ có nhiều lợi thế và thuận lợi hơn trong quá trình triển khai, áp dụng và nâng cấp.

Có cảm giác như hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫn nhầm lẫn giữa truy xuất thông tin và truy xuất nguồn gốc. Vậy sự khác nhau thế nào?
Truy xuất thông tin là khi người tiêu dùng quét mã và thấy một số nội dung giới thiệu như tên sản phẩm, hình ảnh, thành phần, chứng nhận hoặc câu chuyện thương hiệu hay đơn giản là dẫn link về website để người dùng tự đọc, tự nhận biết. Những thông tin đó cần thiết, nhưng chưa đủ để gọi là truy xuất nguồn gốc.
Nói theo ngôn ngữ bình dân: Truy xuất nguồn gốc là truy được (nghĩa là có vết để truy, truy xuôi được, truy ngược cũng được), xuất được (nghĩa là có nền tảng, hệ thống sẵn sàng để lưu trữ, chia sẻ khi cần) có nguồn rõ ràng, minh bạch, liền mạch đến tận gốc.
Truy xuất nguồn gốc phải trả lời được đường đi của sản phẩm. Nguyên liệu từ đâu, sản xuất ở đâu, thời điểm nào, lô nào, qua khâu kiểm tra chất lượng nào, đóng gói ra sao, vận chuyển đến đâu, phân phối qua đơn vị nào. Nói cách khác, truy xuất nguồn gốc phải có dữ liệu theo chuỗi, có mốc thời gian, có đơn vị chịu trách nhiệm và có khả năng truy ngược khi xảy ra sự cố.
Một mã QR chỉ hiển thị thông tin tĩnh thì mới là “truy xuất thông tin”. Còn truy xuất nguồn gốc đúng nghĩa phải là một hệ thống dữ liệu đều, đủ, sạch, sống, được cập nhật và kiểm soát trong suốt quá trình sản xuất, vận hành, kinh doanh.
Hiện nay nhiều sản phẩm trải qua rất nhiều công đoạn ở nhiều doanh nghiệp khác nhau, thậm chí là các khâu ở các nước khác nhau. Vậy trường hợp này quy định trách nhiệm của các bên thế nào và các thông tin cần thiết sẽ là gì?
Với chuỗi cung ứng nhiều bên, nguyên tắc thực tế là: bên nào tạo ra dữ liệu ở khâu nào thì phải chịu trách nhiệm về dữ liệu ở khâu đó. Nhưng đơn vị đưa hàng hóa ra thị trường, đơn vị sở hữu thương hiệu, đơn vị nhập khẩu hoặc đơn vị chịu trách nhiệm lưu thông tại Việt Nam phải là đầu mối tổng hợp và khai báo dữ liệu đầy đủ.
Ví dụ, một sản phẩm có nguyên liệu từ nước ngoài, gia công ở một nhà máy, đóng gói ở một đơn vị khác và phân phối tại Việt Nam thì mỗi khâu cần có thông tin rõ ràng: đơn vị thực hiện, địa điểm, thời gian, mã lô đầu vào, mã lô đầu ra, chứng từ liên quan, tiêu chuẩn áp dụng và kết quả kiểm tra nếu có.
Điều doanh nghiệp cần làm là thiết kế được “xương sống dữ liệu” cho sản phẩm. Mỗi lô hàng phải có mã định danh rõ, các sự kiện trong chuỗi phải được ghi nhận. Khi có vấn đề, doanh nghiệp phải truy được lô đó đến từ đâu, đã đi qua những bên nào và đang nằm ở đâu trên thị trường.
“Loại bỏ cách làm hình thức”
Một điều doanh nghiệp và người tiêu dùng quan tâm là quy định này có làm gia tăng chi phí khi hàng hóa tới tay người mua? Ông có thể ví dụ vài mặt hàng cụ thể?
Chắc chắn doanh nghiệp sẽ có thêm chi phí, nhưng nếu làm đúng thì chi phí này không nhất thiết làm giá hàng hóa tăng mạnh. Chi phí lớn nhất thường không nằm ở mã QR, mà nằm ở việc tổ chức dữ liệu, quy trình và con người vận hành.
Với các mặt hàng có giá trị cao như bình gas, thiết bị điện, dược phẩm, thực phẩm chức năng, chi phí truy xuất trên từng sản phẩm thường rất nhỏ so với giá bán và giá trị bảo vệ thương hiệu. Với hàng tiêu dùng đóng gói như cà phê, bánh kẹo, nước uống, doanh nghiệp có thể in mã trực tiếp trên bao bì để tối ưu chi phí. Với nông sản, rau củ, trái cây, không nhất thiết lúc nào cũng truy xuất từng quả; có thể truy xuất theo lô, theo thùng, theo khay hoặc theo đơn vị đóng gói phù hợp.
Vấn đề là chọn đúng mô hình. Sản phẩm nào cần xác thực từng đơn vị thì làm theo từng đơn vị. Sản phẩm nào phù hợp quản lý theo lô thì làm theo lô. Nếu thiết kế đúng ngay từ đầu, truy xuất nguồn gốc không chỉ là chi phí tuân thủ mà còn giúp doanh nghiệp giảm rủi ro, kiểm soát hàng hóa và tăng niềm tin với khách hàng.
Tuy nhiên, nếu chỉ xét ở khía cạnh chi phí thì chưa phản ánh được đầy đủ bản chất vì việc triển khai áp dụng truy xuất nguồn gốc không chỉ mang lại lợi ích, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, giúp cơ quan chức năng quản lý giám sát tốt hơn, giữ thị trường trong sạch hơn mà còn giúp chính Doanh nghiệp tạo ra giá trị lớn hơn cho sản phẩm, bán được giá tốt hơn, được tin tưởng hơn và có những cơ hội giao thương tốt hơn không chỉ trong nước mà còn xuất khẩu, và góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng Việt trên trường quốc tế.

Được biết ông từng tham gia vào quá trình kết nối thông tin dữ liệu các doanh nghiệp với Cổng thông tin truy xuất của Bộ Công Thương. Liệu quy định bắt buộc sớm hơn 6 tháng thì hệ thống có đảm bảo được “trơn tru”?
Về nguyên tắc, hệ thống truy xuất của Bộ Công Thương là nơi tiếp nhận, lưu trữ, quản lý và kết nối dữ liệu truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Doanh nghiệp có thể khai báo trực tiếp trên hệ thống hoặc sử dụng hệ thống truy xuất nội bộ của mình, sau đó kết nối, chia sẻ dữ liệu theo chuẩn kỹ thuật, quy định hiện hành.
Ở góc độ doanh nghiệp công nghệ đã tham gia triển khai và kết nối, tôi thấy vấn đề quan trọng nhất không chỉ là hệ thống kỹ thuật có chạy được hay không, mà là dữ liệu của doanh nghiệp có sẵn sàng hay không.
Nếu doanh nghiệp làm đúng lộ trình thì hoàn toàn có thể triển khai trơn tru, còn giải pháp, kỹ thuật, hệ thống thì tôi nghĩ đã sẵn sàng, ổn định.
Từ thời điểm Thông tư có hiệu lực, doanh nghiệp cần đăng ký, định danh sản phẩm, rà soát dữ liệu và chuẩn bị kết nối. Từ nay đến mốc áp dụng đầy đủ, doanh nghiệp không nên dồn việc vào phút cuối. Hệ thống kỹ thuật là một phần, nhưng nút thắt thật sự nằm ở việc doanh nghiệp có chuẩn hóa được dữ liệu, phân công người vận hành và duy trì cập nhật thường xuyên hay không.
Tôi nghĩ đây cũng là cơ hội để thị trường loại bỏ tình trạng “mã QR hình thức”. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối, truy xuất nguồn gốc sẽ trở thành công cụ quản lý thật sự, giúp bảo vệ người tiêu dùng, hỗ trợ cơ quan quản lý và nâng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt.
Cảm ơn ông vì những chia sẻ!











