Bến phà Hiệp Kiều
Một ngày tháng 4, theo chân những du kích xã Vĩnh Thủy năm xưa đi dọc sông Sa Lung để tìm lại dấu tích của một bến phà có từ thời chống Mỹ, tôi mới biết, dòng sông này không chỉ mang trong mình âm hưởng huyền thoại được truyền tụng trong dân gian, mà còn là một chứng nhân lịch sử, như bao con sông khác trên mảnh đất Quảng Trị anh hùng. Bến phà hoạt động trên khúc sông chảy qua các thôn Quảng Xá (xã Vĩnh Long cũ) và Linh Hải (xã Vĩnh Thủy) có tên Hiệp Kiều, chuyên vận chuyển vũ khí, đạn dược vào chiến trường miền Nam và thương binh sang chữa trị ở bờ Bắc.
Sông Sa Lung là 1 trong 2 chi lưu hợp thành sông Bến Hải, có dòng chính bắt nguồn từ những mạch suối nhỏ trên dãy Trường Sơn hùng vĩ. Tên gọi của dòng sông này gắn với câu chuyện được truyền tụng trong dân gian. Chuyện kể rằng, thuở hồng hoang, khi đất trời vừa mới hình thành, có một con rồng mẹ từ Đông Hải bay về đại ngàn tìm nơi sinh nở. Ngang qua đất này, thấy núi đồi thoai thoải, đất đai phì nhiêu, cây cối tươi tốt thì đằm mình xuống, tìm chỗ sinh con. Cái tên “Sa Lung” (thực chất là “Sa Long”), có nghĩa là “rồng sa xuống”. Đến triều Nguyễn, vì phạm húy nên đổi thành Sa Lung.
Với những du kích thời chống Mỹ như ông Lê Văn Tờn (SN 1947), ở thôn Đức Xá, xã Vĩnh Thủy, sông Sa Lung luôn mang nặng ký ức về những ngày tháng quê hương chìm trong lửa đạn. Ngày đó, du kích địa phương được giao nhiệm vụ vận chuyển thương binh từ xóm Biền của thôn Thủy Ba Tây về bến phà Hiệp Kiều của thôn Linh Hải, sau đó đưa đến chữa trị tại một bệnh viện dã chiến ở khu vực Vĩnh Linh.
“Du kích được giao nhiệm vụ này phải thông thạo đường đi và có sức khỏe. Chúng tôi luôn muốn di chuyển thật nhanh để thương binh sớm có cơ hội chữa trị vết thương. Tuy nhiên, đường đi đã khó, lại phải đối mặt với pháo sáng, bom tọa độ, bom sát thương của Mỹ nên gặp nhiều hiểm nguy. Vậy nhưng khó khăn, nguy hiểm đó không thấm vào đâu so với những gì người lính phải chịu đựng. Họ là những người ngày “ăn cơm Bắc” (ở xóm Biền), tối “đánh giặc Nam” ở Cồn Tiên, Dốc Miếu rồi bị thương. Dọc đường đi, có người cắn răng chịu đựng, có người rên xiết vì đau đớn khiến chúng tôi không cầm được lòng. Mỗi lần gánh thương binh về đến bến phà an toàn, chúng tôi đều phấn khởi, không chỉ vì đã hoàn thành nhiệm vụ mà vì có thêm một người lính nữa được chữa trị vết thương”, ông Tờn trầm giọng. Câu chuyện về sông Sa Lung, về bến phà Hiệp Kiều cứ thế được ông kể lại, chầm chậm trong ánh bàng bạc của con sông buổi sớm mai tràn nắng...

Những du kích xã Vĩnh Thủy năm xưa tìm lại dấu vết của bến phà Hiệp Kiều trên dòng Sa Lung - Ảnh: Hoài Hương
*
Qua câu chuyện của ông Lê Văn Tờn, tôi lần tìm những người từng tham gia làm nhiệm vụ tại bến phà Hiệp Kiều. Một trong những người đó là ông Lê Văn Tịnh (SN 1943), hiện sống tại xã Vĩnh Thủy. Từ năm 1966 đến khi hòa bình lập lại, ông Tịnh đã gắn bó với con sông Sa Lung trong vai trò Tổ trưởng Bến phà Hiệp Kiều.
Theo lời kể của ông Tịnh, tổ công nhân ở bến phà có từ 6-12 người, đều trực thuộc Ty Giao thông Vĩnh Linh. Những người được lựa chọn làm việc ở đây phải có sức khỏe tốt và bơi lội giỏi vì việc điều khiển phà hoàn toàn bằng tay. Tổ công nhân bến phà nhận lệnh trực tiếp từ Khu đội Vĩnh Linh, điều khiển các chuyến phà vận chuyển vũ khí hạng nhẹ và thương binh qua sông Sa Lung. Vì là tuyến vận chuyển quan trọng nên bến phà bị B52 Mỹ đánh phá ác liệt, nhất là vào năm 1967. Để bảo đảm bí mật, các chuyến phà đều hoạt động vào ban đêm. “Có lần, bom Mỹ đánh vào đúng vị trí cất giấu khiến phà trôi ra giữa sông. Bất chấp nguy hiểm, tôi cùng đồng nghiệp bơi ra để kéo phà vào địa điểm cất giấu an toàn. Mặc dù bị địch bắn phá ác liệt nhưng nhờ nắm bắt thông tin tốt nên tất cả các chuyến phà chở vũ khí và thương binh qua bến Hiệp Kiều đều bảo đảm an toàn tuyệt đối”, ông Tịnh chia sẻ.
Cho rằng mình là người có duyên nợ với dòng Sa Lung, nên trong ký ức của ông Tịnh, vẫn luôn vỗ về nhịp đập êm ả của từng con nước. Ông nhớ những đêm trăng thanh bình, khi vắng tiếng đạn bom, ngồi nhìn bóng tre đổ xuống mặt nước mà mơ về ngày hòa bình. Ông nhớ những tháng ngày khi hòa bình lập lại, trên những chuyến phà đầy ắp hàng hóa, người dân vui kể chuyện làng quê đổi mới sau chiến tranh. “Một thời sôi nổi, một đời cần mẫn, đều trên khúc sông này. Phà ơi, đò ơi..., những thanh âm đó thi thoảng vẫn vọng về trong giấc mơ của tôi”, giọng ông có chút bùi ngùi. Hòa bình lập lại trên đất Vĩnh Linh cũng là lúc bến phà Hiệp Kiều không còn hoạt động, ông Tịnh được điều về lái phà Phúc Lâm và Châu Thị, cũng trên dòng Sa Lung khi những cây cầu chưa nối nhịp đôi bờ. Hoạt động trong thời bình, các chuyến phà qua sông Sa Lung chủ yếu vận chuyển người và lương thực phục vụ người dân các xã Vĩnh Lâm, Vĩnh Sơn, Vĩnh Thủy (huyện Vĩnh Linh cũ). Sau này, khi các bến phà không còn hoạt động, ông về chèo đò ở bến Phúc Lâm cho đến khi có cây cầu bắc qua sông thì lui về với công việc đồng áng.

Sông Sa Lung bình yên trong nắng mai - Ảnh: T.T
*
Nói về vai trò của bến phà Hiệp Kiều trong chiến tranh, ông Lê Hải Đăng (SN 1945), hiện ở xã Trung Nam, thời điểm năm 1966 là Trung đội phó Tiểu đoàn 47, Bộ Tư lệnh 270, Khu vực Vĩnh Linh, cho rằng: “Đây là tuyến vận chuyển có vị trí chiến lược quan trọng vì vừa cơ động lực lượng, vừa bảo đảm bí mật. Bến phà Hiệp Kiều hoạt động mạnh nhất vào năm 1966, ngoài vận chuyển vũ khí, thương binh, còn chở bộ đội qua sông, hành quân vào chiến trường phía Nam. Vào tháng 3/1966, Khu vực Vĩnh Linh tăng cường quân cho chiến trường phía Nam, Tiểu đoàn 47 được lệnh hành quân qua bến phà này”.
Cùng chung nhận định trên, ông Lê Đăng Kiểu (86 tuổi), nguyên là Trung đội trưởng Trung đội súng máy phòng không 12,7mm của dân quân thôn Linh Hải, xã Vĩnh Thủy, nhấn mạnh: Hai bên sông Sa Lung đoạn chọn xây dựng bến phà là rừng tre rậm rạp, địa thế thuận lợi, đảm bảo bí mật cho việc vận chuyển thương binh, vũ khí. Trận chiến ngày 11/11/1966 ở xã Vĩnh Thủy, Tiểu đoàn 6 sau khi bắn hạ 6 máy bay của Mỹ cũng đã rút quân qua bến phà này.
Hồi đó, dân quân xã Vĩnh Thủy là lực lượng chính vận chuyển thương binh về bến phà để chuyển ra tuyến sau điều trị. Vậy nên, nhắc lại những năm tháng làm nhiệm vụ ở bến phà Hiệp Kiều, ai nấy đều rưng rưng nhớ về thời tuổi trẻ gian khổ mà hào hùng của mình. Ông Võ Văn Viết (SN 1935) ở thôn Đức Xá, khi đó là Đại đội phó dân quân du kích, kiêm Trung đội trưởng dân quân trực chiến đơn vị Đông Hải, xã Vĩnh Thủy. Đơn vị ông vừa tham gia sản xuất, vừa trực chiến tại khu vực có bến phà Hiệp Kiều. Sau khi nắm tình hình thương binh được chuyển ra từ xóm Biền, thôn Thủy Ba Tây, đơn vị báo cho lực lượng trực phà biết số lượng và thời gian để bố trí phương tiện đón thương binh qua bờ Bắc. “Ngoài ra, chúng tôi còn có nhiệm vụ báo cáo vị trí hầm trú ẩn trên đường đi cho dân quân du kích địa phương để bảo đảm an toàn cho việc vận chuyển thương binh”, ông Viết nhớ lại.
Ký ức của người trong cuộc thì vẫn rõ nét nhưng hơn 50 năm đã trôi qua, mọi thứ “vật đổi sao dời”, việc tìm lại địa điểm bến phà năm xưa không dễ. Mặc dù quả quyết rằng vị trí nơi mình đang đứng chính là bến phà Hiệp Kiều năm xưa nhưng ông Lê Văn Tờn vẫn không tránh khỏi ngậm ngùi: Giá như nơi đây còn lưu lại một tấm biển ghi tên bến phà cùng nhiệm vụ quan trọng mà nó đảm nhiệm trong giai đoạn ác liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, để lớp cháu con ngày nay được biết...
Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/phong-su-ky-su/202605/ben-pha-hiep-kieu-3d1662c/











