Bệnh thận mạn đang 'âm thầm' đe dọa sức khỏe nhiều người Việt, chuyên gia khuyến nghị gì?
Việt Nam ước tính có khoảng 12.8% dân số trưởng thành mắc bệnh thận mạn. Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện sớm còn hạn chế, trên 90% người mắc chưa biết tình trạng bệnh; số ca được tầm soát mỗi năm chỉ khoảng 8.000.
Nhiều bệnh nhân bệnh thận mạn được chẩn đoán muộn ở giai đoạn 3–5, kèm theo các biến chứng như tim mạch, thiếu máu, rối loạn điện giải…làm tăng nhu cầu điều trị thay thế thận và nguy cơ tử vong.

TS Lê Thái Hà - Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh phát biểu tại hội thảo.
Những thông tin trên được các chuyên gia đưa ra tại hội thảo "Tăng cường phòng chống và quản lý bệnh thận mạn tại Việt Nam" nhằm thúc đẩy giải pháp dự phòng, tầm soát và quản lý bệnh thận mạn lấy người bệnh làm trung tâm do Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá Kinh tế Y tế (HERAC).
Sự kiện tập trung thảo luận về sự cần thiết và các giải pháp dựa trên bằng chứng nhằm dự phòng, phát hiện sớm và quản lý bệnh thận mạn (CKD) một cách liên tục, tích hợp và hiệu quả.
Gánh nặng bệnh thận mạn
GS.TS. Võ Tam, Phó Chủ tịch Hội Tiết niệu- Thận học Việt Nam cho biết, bệnh thận mạn là bệnh lý phổ biến ở cả thế giới trong đó Châu Á và Việt Nam cũng không là ngoại lệ, với tỷ suất mắc mới, tử vong cao và ngày càng trẻ hóa.
Ở giai đoạn cuối, gánh nặng điều trị rất lớn. Năm 2023, ước tính có khoảng 46.000 người bệnh cần lọc máu trong bối cảnh năng lực hệ thống còn hạn chế (khoảng 7.000 máy lọc). Tỷ lệ tử vong sau 5 năm ở nhóm chạy thận khoảng 50%.

GS.TS. Võ Tam, Phó Chủ tịch Hội Tiết niệu- Thận học Việt Nam phát biểu.
Chi phí chạy thận nhân tạo trung bình 9,6–22,5 triệu đồng/tháng (tương đương 6–7 lần lương tối thiểu); phần tự chi trả có thể lên tới 80% thu nhập hộ gia đình cận nghèo. Chi phí cho 1 ca bệnh thận mạn thậm chí còn lớn hơn thu nhập bình quân ở Việt Nam năm 2018.
GS.TS Võ Tam cho hay, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh thận mạn tính, trong đó có một số yếu tố rất quen thuộc trong đời sống hiện nay đó là tiểu đường. Đây là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến suy thận. Khi lượng đường trong máu không được kiểm soát, nó sẽ làm tổn thương các mạch máu nhỏ trong thận, khiến thận không thể lọc chất thải hiệu quả;
Tăng huyết áp (áp lực máu cao không chỉ ảnh hưởng đến tim mà còn khiến thận bị tổn thương. Khi huyết áp không được kiểm soát, mạch máu trong thận bị hư hại, khiến thận không thể thực hiện chức năng lọc thải);
Lối sống thiếu lành mạnh, chế độ ăn uống thiếu khoa học, ăn nhiều muối, ít vận động và thừa cân là những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh thận. Hơn nữa, thói quen uống ít nước cũng là nguyên nhân góp phần vào sự suy giảm chức năng thận.
Bệnh thận mạn khởi nguồn từ tổn thương tại mạch thận, cầu thận, ống – mô kẽ và đường tiết niệu. Các yếu tố nguy cơ phổ biến gồm đái tháo đường, tăng huyết áp, tuổi cao, bệnh tim mạch, tiền sử tổn thương thận cấp, tiền sử gia đình mắc bệnh thận mạn, hút thuốc, béo phì, sử dụng kéo dài thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) và các thuốc độc thận...
Ở bệnh nhân ung thư, tổn thương thận cấp và bệnh thận mạn thường gặp với cơ chế đa yếu tố (thâm nhiễm, hội chứng tiêu khối u, tắc nghẽn, nhiễm trùng, độc tính từ hóa trị/xạ trị và thuốc điều trị đích như platinum, anti VEGF…), đòi hỏi phối hợp đa chuyên khoa và sự tham gia sớm của bác sĩ thận.
Góc nhìn mới về phát thải và chi phí, định hướng mô hình chăm sóc bền vững đối với bệnh thận mạn

Các chuyên gia đầu ngành tham dự hội thảo.
Khác với các báo cáo về dịch tễ và lâm sàng, IMPACT-CKD mang tới góc nhìn mới về phát thải carbon và chi phí y tế trong quản lý bệnh thận mạn tại Việt Nam. Kết quả cho thấy ba nguồn phát thải lớn nhất đến từ nhập viện, di chuyển bệnh nhân, và đặc biệt là điều trị thay thế thận (lọc máu, ghép thận...) ở giai đoạn 5.
Phát thải các bon từ hoạt động chăm sóc mỗi bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn 5 có thể lên đến 6.6 tấn CO2 một năm, tương đương phát thải của một chuyến bay khứ hồi Hà Nội – New York, và tổng phát thải hằng năm từ việc điều trị các bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối tại Việt Nam hiện nay ước khoảng 0,5 triệu tấn CO₂.
Các phân tích này cho thấy nếu làm chậm tiến triển bệnh thận mạn, tăng cường phát hiện sớm và quản lý tại cộng đồng, đồng thời tối ưu mô hình điều trị thay thế thận (ưu tiên lựa chọn tại nhà khi phù hợp, giảm di chuyển và sử dụng tài nguyên), chúng ta không chỉ giảm chi phí y tế trực tiếp cho người bệnh và hệ thống, mà còn giảm đáng kể dấu chân carbon của ngành y tế.
Đây là bằng chứng đầu tiên tại Việt nam cho thấy mối liên kết rõ ràng giữa mục tiêu sức khỏe với mục tiêu phát triển bền vững bền vững, bổ sung khía cạnh môi trường – kinh tế xã hội vào hoạch định chính sách bệnh thận mạn, nhằm góp phần giảm thiểu tác động lên môi trường của hệ thống y tế, hướng tới cam kết đạt Net Zero vào năm 2050 của Chính phủ.
Khoảng trống trong tầm soát và quản lý bệnh thận mạn: Ưu tiên nâng cao năng lực tuyến cơ sở
Khảo sát thực trạng chẩn đoán, theo dõi và tầm soát bệnh thận mạn do Hội nghị Tiết niệu – Thận học toàn quốc thực hiện tháng 8/2025 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nguy cơ cao được làm đủ xét nghiệm chẩn đoán còn thấp; hơn một phần ba cơ sở chỉ thực hiện đầy đủ cho dưới 25% bệnh nhân. Tần suất xét nghiệm chủ yếu 1 lần/năm; một bộ phận thực hiện không định kỳ, dẫn tới bỏ sót chẩn đoán.
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh thận mạn của Bộ Y tế năm 2024 nhấn mạnh phát hiện sớm tại tuyến cơ sở và sử dụng sớm các nhóm thuốc có chứng cứ bảo vệ thận để làm chậm tiến triển, giảm biến cố tim mạch – thận.

Đại diện Cục Phòng bệnh trình bày thông tin về bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam, trong đó có bệnh thận mạn.
Hội thảo cụ thể hóa khuyến nghị triển khai theo 4 nhóm giải pháp:
Chuẩn hóa sàng lọc chủ động: dùng bộ câu hỏi SCORED bệnh thận mạn, que thử nhanh protein niệu; tăng chỉ định xét nghiệm eGFR và UACR định kỳ cho nhóm nguy cơ; phát hiện sớm, chuyển tuyến kịp thời.
Nâng cao nhận thức cộng đồng: Tăng cường truyền thông về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu sớm của bệnh; khuyến khích người dân kiểm tra sức khỏe định kỳ và sử dụng thuốc hợp lý; tránh tự ý dùng dài ngày các thuốc như NSAIDs hoặc các thuốc/thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc… Đồng thời, thúc đẩy lối sống lành mạnh với chế độ dinh dưỡng cân đối, duy trì vận động thường xuyên và bỏ thuốc lá.
Mô hình quản lý lấy người bệnh làm trung tâm: Bảo đảm tiếp cận chẩn đoán cơ bản, thuốc thiết yếu và theo dõi liên tục; tăng cường phối hợp giữa y tế cơ sở, giữa các chuyên khoa thận học, nội tiết, tim mạch để quản lý đa bệnh lý tim – thận – chuyển hóa.
Cải thiện chất lượng sống giai đoạn cuối: Tối ưu điều trị thay thế thận; mở rộng lựa chọn tại nhà khi phù hợp; giảm chi phí ngoài y tế (di chuyển, chăm sóc); đồng thời giảm phát thải trong chuỗi chăm sóc theo định hướng của IMPACT-CKD.
GS.TS. Võ Tam nhấn mạnh thêm, sàng lọc và can thiệp sớm bệnh thận mạn giúp làm chậm tiến triển của bệnh, bảo tồn chức năng thận và giảm nguy cơ tiến triển thành bệnh thận giai đoạn cuối, giảm bớt gánh nặng kinh tế và tỷ lệ tử vong do bệnh này.
Bên cạnh các khuyến nghị chính sách và kỹ thuật, hội thảo ghi nhận các mô hình thực tiễn đang tạo tác động rõ rệt tại cộng đồng.
Chương trình CAREME – Yêu lấy mình - tên viết tắt của 3 nhóm bệnh Cardio (tim mạch), Renal (thận) và Metabolic (chuyển hóa) - là sáng kiến hợp tác giữa Cục Quản lý Khám, Chữa bệnh Bộ Y tế và AstraZeneca Việt Nam với sự đồng hành triển khai của Hội Tim mạch học Việt Nam, Hội Tiết niệu - Thận học Việt Nam và Hội Đái tháo đường Việt Nam.
Trong khuôn khổ CAREME, Chương trình khám sàng lọc các bệnh lý tim mạch - thận - chuyển hóa là một hoạt động hợp tác chiến lược giữa Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam và AstraZeneca dưới sự bảo trợ của Bộ Y tế, được triển khai từ năm 2022, tập trung sàng lọc và góp phần quản lý sớm các bệnh tim mạch, thận, chuyển hóa.
Sau 3 năm, CAREME đã sàng lọc hơn 200.000 người dân, phát hiện gần 10.000 ca bệnh thận mạn giai đoạn sớm, mở rộng tầm soát tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, kết hợp xét nghiệm nhanh, siêu âm, điện tim tại chỗ và tích hợp dữ liệu vào hồ sơ sức khỏe điện tử.
Với ý nghĩa và các tác động tích cực mà chương trình đã đem tới, CAREME đã được lãnh đạo Bộ Y tế đánh giá cao, ủng hộ nhân rộng trong Chiến lược quốc gia về phòng, chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2026–2035.














