Bí ẩn chuyện “giếng cãi”
Dưới bóng những tán lá sung già bên triền đồi Ca Đình (xã Tây Cốc), thời gian như ngưng đọng lại trong tiếng róc rách của những mạch nước ngầm ngàn năm tuổi. Giữa xanh ngắt ruộng lúa đương thì con gái xen lẫn những vạt chè non xanh mỡ màng, dân làng nhiều đời nay vẫn truyền tai nhau về huyền thoại 99 chiếc giếng cổ - một “báu vật” ẩn chứa nhiều câu chuyện ly kỳ, gắn liền với bóng hình thời đại thuở Hùng Vương dựng nước.
Cao niên kể chuyện giếng cổ
Tìm về miền đất cổ này vào một ngày nắng chói chang, khi cái oi ả của vùng trung du phả vào từng vạt cỏ, chúng tôi may mắn được gặp cụ Trương Công Quý, năm nay đã bước sang tuổi 90. Đã 65 năm tuổi Đảng, cụ Quý dù tuổi cao sức yếu, nhưng đôi mắt bỗng tinh anh hẳn lên, nét mặt trầm ngâm thả hồn về những ký ức thuở thiếu thời mỗi khi nhắc đến hệ thống giếng cổ của làng.

Ông Trương Công Quý (bên phải) năm nay đã 90 tuổi hào hứng kể chuyện "giếng cãi" của làng.
Nhấp ngụm nước chè xanh, thong thả cụ hồi tưởng lại: “Các cụ xưa kể “giếng cãi” làng tôi đã có từ hàng ngàn năm, tổng cộng có tới 99 cái tập trung trong các thôn của tổng Ca Đình cũ”. Ký ức của cụ gắn liền với những năm tháng gian khó, khi là một cậu bé 11 tuổi theo cha mẹ từ Thái Bình lên đây chạy giặc Pháp, rồi bám rễ miền sơn cước này. Hồi ấy, chân ướt chân ráo đặt chân đến vùng đất mới, cụ đã nghe người bản địa truyền tai nhau về sự tồn tại của hàng chục chiếc giếng kỳ lạ. Theo ước chừng của cụ, thời điểm đó có khoảng 60 - 70 chiếc giếng nguyên vẹn; còn lại bị lấp đi do quá trình mở rộng ruộng nương, làm đường giao thông và sự khắc nghiệt của thời gian.
Điều kỳ diệu mà bất kỳ ai khi đặt chân đến đây cũng phải ngỡ ngàng chính là quy luật hoạt động của những chiếc giếng. Dẫu nông choèn, chỉ sâu chừng 60 - 80 cm, nhưng cả làng quanh năm dùng nước mà chưa bao giờ thấy cái nào cạn. Đặc biệt, cấu trúc của các giếng mang đậm dấu ấn kỹ thuật cổ xưa: Tang giếng bằng gỗ, thành giếng và đáy giếng cũng được ghép bằng các loại gỗ quý bền bỉ với thời gian. Nước lúc nào cũng ăm ắp, trong veo, mát lạnh quanh năm như xua tan mọi mệt nhọc sau mỗi buổi ra đồng nắng gắt....
Không chỉ riêng cụ Quý, anh Trần Trung Kiên - một người con gốc Ca Đình dành trọn tình yêu cho mảnh đất quê hương cũng thuộc lòng vị trí của nhiều chiếc giếng cổ. Anh cho biết, trong 99 cái giếng ấy, nổi bật nhất là giếng Trội, nay nằm ở thôn 4 (xóm Đình). Trong thời kỳ kháng chiến cứu nước, vùng Ca Đình chia làm 4 xóm gồm: Đồng Trên, Ca Đình, Dốc Chợ và Việt Hùng, đi đến đâu cũng nghe tiếng suối reo và bắt gặp những chiếc giếng gỗ cổ kính nằm lặng lẽ dưới bóng cây.
Nhưng, điều khiến cho nhiều người tò mò nhất chính là câu chuyện xung quanh cái tên kỳ lạ: “Giếng cãi”. Theo lời cụ Quý, các cao niên trong làng vẫn kể lại: Thuở dựng nước, Vua Hùng muốn tìm một vùng đất linh thiêng để làm đất thang mộc. Nhà vua liền giao trọng trách cho các lạc dân phải đào 100 cái giếng trong một đêm, hẹn rằng khi trời sáng phải hoàn thành, nếu xong sẽ chọn vùng đất này làm kinh đô. Nhận lệnh, dân đinh hối hả cuốc đất, tát nước, chuyền tay nhau từng thanh gỗ dựng tang giếng. Thế nhưng, đời người khó tránh lúc bất hòa; khi đào đến cái giếng thứ 99 thì những người thợ xảy ra cãi vã lớn về vị trí và cách thức hoàn thiện.
Cũng vừa hay lúc đó, tiếng gà rừng gáy vang báo hiệu trời đã sáng, ánh mặt trời ló rạng. Vì mải cãi nhau mà công việc dở dang, không kịp hoàn thành chiếc giếng thứ 100 đúng hẹn. Do đó, dù không đủ số lượng như ý nguyện ban đầu, Vua Hùng vẫn ban lệnh gọi tên vùng đất này là Ca Đình - theo giải nghĩa của các cụ xưa, “Ca” là ngũ cốc bội thu, “Đình” là cung đình, minh chứng cho vùng đất có từ thời vua Hùng dựng nước. Và cái giếng thứ 99 mang cái tên dân dã, độc đáo, tồn tại đến tận ngày nay: “Giếng Cãi”.
Truyền thuyết ngàn năm hiện hữu ở đất làng
Truyền thuyết lưu truyền đã ngàn năm của làng Ca Đình còn ghi nhận thêm những dị bản khác vô cùng thú vị. Cụ bà Trương Thị Tuyến năm nay đã 88 tuổi, lại lưu giữ một câu chuyện khác được cha ông truyền lại. Theo cụ Tuyến, lệnh đào 100 cái giếng của nhà vua thực chất là để thu hút 100 con đại bàng khổng lồ bay về uống nước. Nếu đủ 100 con tụ hội, nơi đây sẽ được chọn làm kinh đô vững chãi. Nhưng ngặt một nỗi, vì các cụ cãi nhau nên cái giếng cuối cùng không hoàn thành, khiến đàn đại bàng bay về thiếu mất một vị trí có nước. Con đại bàng đến sau không thấy nước uống, bèn cất cánh bay đi, kéo theo cả đàn bay khuất ngàn mây, khiến giấc mơ lập kinh đô thuở ấy lỡ nhịp.
Cụ Tuyến cũng kể lại câu chuyện ly kỳ về giếng Gương - chiếc giếng nằm sát chân đồi, nơi có nguồn nước trong đến mức soi rõ mặt người. Xưa kia, cạnh giếng có một phiến đá to, phẳng như bức tường thành, ai đến tắm cũng thấy bóng mình hiển hiện trong đó. Các cao niên xưa truyền tai nhau rằng, trong một trận hồng thủy nước ngập kinh hoàng, phiến đá linh thiêng ấy đã bị “Vua Thủy Tề” lấy mất. Trải qua bao năm tháng, người dân đi làm đồng đôi khi vẫn thấy dấu vết của phiến đá nhẵn thín trồi lên mỗi khi mưa lớn kéo về, nhưng chẳng ai dám mạo muội đào bới vì sợ phạm vào vía thiêng của đất trời.
Dù thời gian đã phủ lớp bụi mờ lên bao huyền thoại, hệ thống giếng cổ Ca Đình vẫn để lại những dấu ấn vật chất hiện hữu vô cùng giá trị. Đi cùng anh Trần Trung Kiên, chúng tôi tìm đến giếng Cãi - chiếc giếng cuối cùng trong truyền thuyết đêm phân tranh thuở nào. Giếng nằm khiêm nhường dưới bóng một gốc sung cổ thụ xù xì, lối xuống hơi dốc thoai thoải quanh những vạt chè xanh non mỡ màng. Đưa tay khỏa vào lòng giếng, vục một gầu nước trong veo lên nếm thử, vị ngọt mát lan tỏa tức thì. Quan sát kỹ, giếng có độ sâu chừng 80 cm đến 1 mét, thành giếng nay đã được Nhân dân tu tạo bằng bê tông vuông vức, có lát gạch bao quanh để bảo vệ, nhưng phần tang giếng bằng gỗ quý vẫn còn in mờ những thớ gỗ rêu phong, minh chứng cho sức sống bền bỉ qua năm tháng.
Cách đó không xa là giếng Gương ở thôn Ca Đình 4, nằm ngay sát chân đồi và mép suối. Nhờ sự chăm chút của gia đình ông Dương Văn Truyền, giếng đã được xây tường bao, có cửa ra vào sạch sẽ. Anh Kiên hoài niệm: “Trước đây, do nguồn nước dồi dào, trong sạch, cả xóm ra giếng Gương gánh nước về ăn uống, sinh hoạt và tắm giặt”.
Nói về giá trị lịch sử văn hóa của hệ thống giếng cổ, ông Nguyễn Minh Thành (sinh năm 1934, nguyên Chủ tịch UBND xã Tây Cốc nhiều khóa, 64 năm tuổi Đảng) bồi hồi nhớ lại. Sau khi xuất ngũ, năm 1977, ông đảm nhiệm cương vị Chủ tịch UBND xã khi mới 43 tuổi và từng chứng kiến nhiều đoàn cán bộ văn hóa, nhà nghiên cứu lịch sử tìm về Ca Đình khảo sát hệ thống 99 chiếc giếng. Tuy nhiên, điều khiến người dân trăn trở là sau mỗi chuyến khảo sát họ vẫn chưa biết rõ về quy mô và giá trị của di tích.

Giếng Gương hiện đã được cải tạo lại và dùng làm nơi lấy nước sinh hoạt của nhiều hộ dân.

“Giếng Cãi” nằm ngay dưới gốc sung cổ thụ.
Dẫu số lượng đã mai một, làng Ca Đình vẫn còn khoảng 5 - 6 cái giếng cổ được người dân sử dụng. Những giếng này nằm rải rác ngoài ruộng lúa, dưới chân đồi hoặc dọc các khe suối uốn lượn.
Chia tay những bậc cao niên ở vùng đất cổ Ca Đình, trong tôi đọng lại ánh mắt tha thiết của cụ Nguyễn Minh Thành. Đó là niềm tự hào về một miền quê cổ kính, nhưng cùng là nỗi mong mỏi các cấp, các ngành sớm chung tay khảo cứu, khôi phục hệ thống giếng cổ. Bởi mỗi chiếc giếng không chỉ lưu giữ mạch nguồn của đất, mà còn chứa đựng những dấu tích lịch sử, văn hóa và hồn cốt cha ông cần được trao truyền cho mai sau.
Nguồn Phú Thọ: https://baophutho.vn/bi-an-chuyen-gieng-cai-261076.htm

