'Bia cổ hoài lai' – Báu vật truyền đời
Giữa trùng điệp núi rừng Tây Bắc, nơi cổ nhân gọi là Ninh Viễn (nghĩa là vùng đất xa xôi mà yên ổn), bên dòng sông Đà – dòng sông huyền thoại, trên vách Pú Huổi Chỏ, có một báu vật mà 6 thế kỷ trước ông cha ta đã để lại. Đó là 'Bia cổ hoài lai' – tấm bảo thạch trấn biên, là báu vật truyền đời mà cha ông để lại cho muôn thế hệ con cháu.

“Thảo mộc kinh phong hạc/ Sơn xuyên nhập bản đồ” - Đức vua Lê Thái Tổ.
Đức vua Lê Thái Tổ (1385-1433) sinh ra tại Lam Sơn (Thanh Hóa) trong bối cảnh nước nhà bị giặc Minh đô hộ, “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn/ vùi con đỏ dưới hầm tai vạ”. Năm 1418, người dựng cờ vùng lên, mở ra cuộc khởi nghĩa Lam Sơn lừng lẫy đến nỗi “Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà khiếp vía/ Lý An, Phương Chính nín thở cầu thoát thân” (trích Bình Ngô Đại Cáo). Sau 10 năm “nếm mật nằm gai” chiến đấu gian khổ, nghĩa quân đã đánh tan 10 vạn quân xâm lược, giành lại độc lập cho Đại Việt ta. Năm 1428, Đức vua lên ngôi Hoàng đế, sáng nghiệp triều đại nhà Hậu Lê - triều đại lừng lẫy, kéo dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Sử cũ chưa mờ!
Hào khí tuổi xế chiều
Thuở ấy, ở châu Ninh Viễn (vùng Tây Bắc), có tù trưởng Đèo Cát Hãn, khi xưa hắn vốn là kẻ đã “rước voi về giày mả tổ” khi giúp đỡ quân Minh, ra tay đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta. Trước “thế chẻ tre” của nghĩa quân Lam Sơn, hắn bèn đem quân đến xin quy phục. Với lòng khoan dung, Đức vua cho hắn cai quản châu như cũ, “ưu thưởng cho tước phong đẹp đẽ, ban cho ơn dày không tiếc” để vỗ về. Ấy là năm 1427.
Nhưng chưa được bao lâu, năm 1431, Cát Hãn lại “nhờn theo thói cũ”, không chịu vào chầu, hợp mưu làm phản, cho người sang cầu cứu nhà Minh để chống lại triều đình. Hắn xâm phạm châu Mường Mỗi, nổi lên chiếm giữ vùng biên giới và đánh chiếm cả đất Ai Lao (Lào), gây ra mối họa lớn cho dân lành nơi biên ải.

Đền thờ Vua Lê Thái Tổ luôn là địa điểm linh thiêng, tôn kính của người dân.
Trước tình thế ấy, nhiều bề tôi lo lắng, can gián Đức vua không nên thân chinh bởi tuổi đã cao (lúc này người 46 tuổi), đường xá xa xôi hiểm trở. Nhưng với khí phách của bậc anh hùng từng trải qua muôn trận mạc, với tấm lòng luôn đau đáu vận mệnh quốc gia, người đã “Kỳ khu hiểm lộ bất từ nan/Lão ngã do tồn thiết thạch can”. Tạm dịch: “Gập ghềnh hiểm trở chẳng từ nan/ Già lão ta bền chí sắt gang” (trích Đi đánh Đèo Cát Hãn trở về qua đường đê Long Thủy). Đức vua trực tiếp chỉ huy đại quân thủy bộ cùng tiến theo ngược sông Đà, đánh dẹp phiến quân. Với tài thao lược của bậc đế vương chỉ một trận, quân Đèo Cát Hãn bị đánh tan, dẹp yên bờ cõi. Chiến thắng ấy không chỉ khẳng định tài thao lược của bậc minh quân mà còn là minh chứng cho ý chí sắt đá: “Nghĩa khí tảo không thiên chướng vụ/Tráng tâm di vận vạn trùng san”.
Sau chiến thắng, trên đường trở về kinh sư, tháng Chạp năm Tân Hợi (1431), người cho dừng chân bên bờ Bắc sông Đà, dưới chân Pú Huổi Chỏ (thuộc địa phận xã Lê Lợi, tỉnh Lai Châu ngày nay). Tại đây, giữa không gian hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc, Đức vua cho khắc bài minh văn vào vách đá để lưu lại sự kiện cho muôn đời sau. Sử cũ trân trọng gọi đây là “Bia cổ hoài lai”.
Thông điệp muôn đời cho hậu thế
Văn bia gồm 132 chữ Hán, được khắc theo lối chữ khải chân trên một mặt phẳng rộng khoảng 1,4m x 0,8m. Nội dung bài thơ không chỉ đơn thuần kể lại chiến công, mà còn mang hai tầng ý nghĩa sâu sắc.

Bảo vật quốc gia: bia vua Lê Thái Tổ.
Trước hết, đó là lời răn dạy nghiêm khắc của Đức vua đối với các tù trưởng vùng biên, cảnh cáo mọi âm mưu chống phá, chia cắt. Quan trọng hơn, nó là tuyên ngôn khẳng định chủ quyền của Đại Việt trên dải đất Tây Bắc. Những câu thơ bất hủ: “Sơn xuyên nhập bản đồ” (Núi sông đã nhập vào một bản đồ); “Trấn ngã Việt Tây ngung” (Trấn giữ miền Tây nước Việt), đã thể hiện rõ tư tưởng thống nhất non sông, một Đại Việt toàn vẹn. Bài thơ khắc trên đá là bằng chứng lịch sử không thể chối cãi về công cuộc quản lý lãnh thổ và ý thức bảo vệ chủ quyền của cha ông ta từ 6 thế kỷ trước. Mỗi con chữ như một lời tiền nhân nhắn nhủ đến muôn đời con cháu hãy biết yêu thương, gìn giữ từng tấc đất quê hương.
Tôn vinh báu vật
Nhận thức được giá trị vô giá của tấm bia mà cha ông để lại, các thế hệ hôm nay đã có nhiều hành động thiết thực để bảo tồn và tôn vinh di sản. Năm 1981, bia Lê Lợi được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Đến năm 2005, khi Nhà máy Thủy điện Sơn La được khởi công, tấm bia đứng trước nguy cơ bị nhấn chìm. Trước tình thế đó, với lòng thành kính và ý thức trách nhiệm với lịch sử, các nghệ nhân đã khoan cắt tỉ mỉ khối đá nguyên khối nặng hơn 15 tấn khỏi vách núi mẹ. Năm 2012, bia được di dời về khuôn viên Đền thờ vua Lê Thái Tổ cách vị trí cũ 500m. Hành trình ấy không chỉ là kỳ công kỹ thuật mà còn là tấm lòng thành kính của hậu thế đối với tiền nhân.

Nhân dân thành kính hành lễ tại Đền thờ vua Lê Thái Tổ.
Cuối năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã công nhận bia Lê Lợi là Bảo vật quốc gia. Đầu năm 2017, Đền thờ vua Lê Thái Tổ cũng được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia. Không dừng lại ở đó, ba phiên bản của bia đã được chế tác và đặt tại Đền thờ vua Lê Lợi ở phường Đoàn Kết, tỉnh Lai Châu, Tượng đài Lê Thái Tổ ở Hà Nội và Khu di tích Lam Kinh (Thanh Hóa) - nơi phát tích của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, như một cách để lan tỏa giá trị lịch sử đến khắp mọi miền.
Ngày nay, cứ mỗi độ xuân về, du khách thập phương lại nô nức về với Đền thờ vua Lê Thái Tổ. Họ đến để dâng nén hương thơm tưởng nhớ công đức tiền nhân, để tận mắt chiêm ngưỡng “Bia cổ hoài lai” - báu vật truyền đời của dân tộc và để thêm một lần tự hào về non sông gấm vóc mà cha ông đã dày công gìn giữ.
“Sơn xuyên nhập bản đồ – Trấn ngã Việt Tây ngung” - Lời thơ năm ấy vẫn còn vang vọng đến hôm nay, nhắc nhở muôn đời con cháu về trách nhiệm giữ gìn từng tấc đất quê hương mà tiền nhân đã đổ máu xương để lại.
Nguồn Lai Châu: https://baolaichau.vn/xa-hoi/bia-co-hoai-lai-bau-vat-truyen-doi-1025560











