Bia ma nhai Ngự chế - những giá trị độc đáo, độc bản và giải pháp bảo tồn
Không được tạo tác theo hình thức những tấm bia đá quen thuộc với trán bia, diềm bia, hoa văn trang trí hay rùa đội bia, Bia ma nhai Ngự chế của vua Lê Thái Tổ trên núi Phia Tém, xã Hòa An được khắc trực tiếp trên vách đá cheo leo giữa núi rừng. Trải qua gần 600 năm tồn tại, những dòng chữ vẫn hiện hữu trên đá như một chứng tích đặc biệt của lịch sử. Vấn đề đặt ra hôm nay là làm thế nào để những giá trị đang “nằm trên đá” được đánh thức và lan tỏa trong đời sống đương đại, gắn bảo tồn nguyên trạng với nghiên cứu, số hóa, giáo dục di sản và phát triển du lịch bền vững, để Bia ma nhai Ngự chế không chỉ là ký ức của quá khứ mà thực sự trở thành một di sản sống của non nước Cao Bằng.
Bảo vật quốc gia độc bản và độc đáo
Một trong những giá trị nổi bật nhất của Bia ma nhai Ngự chế là tính hiện vật gốc và độc bản. Khi nghiên cứu thư pháp trên văn bia, các nhà Hán Nôm học đều khẳng định cả tám câu thơ và dòng lạc khoản đều là thư pháp được soạn khắc từ đầu thời Lê Sơ, không có hiện tượng khắc lại, cũng không có hiện tượng các triều đại khác khắc thêm như một số tấm bia khác.
Việc tấm bia còn nguyên vẹn như vị trí thư tịch ghi chép, cùng với thư pháp và dòng lạc khoản thể hiện sự trùng khớp về niên đại, là cơ sở quan trọng để khẳng định văn bia này là hiện vật gốc độc bản. Giá trị ấy càng trở nên đặc biệt khi đặt trong dòng chảy lịch sử lâu dài của dân tộc. Một hiện vật tồn tại gần sáu thế kỷ, vẫn giữ được vị trí nguyên gốc trên vách đá và bảo lưu dấu tích chữ khắc từ thời điểm hình thành là nguồn tư liệu vô cùng quý giá đối với việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa và nghệ thuật của Việt Nam thời Lê Sơ.

Bảo vật quốc gia Bia ma nhai Ngự chế được khắc trực tiếp trên vách đá núi Phia Tém, xã Hòa An lưu giữ dấu tích lịch sử gần 600 năm.
Hình thức độc đáo với tấm bia không trán, không diềm, không hoa văn. Chính cách thức thể hiện đặc biệt ấy tạo nên một giá trị riêng cho Bia ma nhai Ngự chế. Nếu những tấm bia thông thường được tạo tác thành một chỉnh thể vật chất tương đối hoàn chỉnh, có hình khối, bố cục và hệ thống trang trí riêng thì bia ma nhai lại hòa vào chính không gian tự nhiên. Đá núi vừa là chất liệu, vừa là nền, vừa là nơi lưu giữ thông tin lịch sử. Đáng chú ý, dù được khắc trên vách đá hiểm trở, thư pháp của văn bia không thua kém bất cứ một tấm bia nào cùng thời đại. Điều đó cho thấy người khắc bia phải là một vị túc nho, có trình độ thư pháp cao nhưng đến nay vẫn không được lưu danh.
Tấm bia có niên đại sớm nhất trong ba tấm bia Ngự chế khi bia được khắc vào tháng Giêng năm 1431. Trong khi đó, văn bia “Thân chinh Phục Lễ Đèo Cát Hãn” (Tạm dịch: Tự mình đi đánh Đèo Cát Hãn ở châu Phục Lễ) nay thuộc tỉnh Lai Châu - có niên đại tháng 12 năm 1431; văn bia “Chinh Đèo Cát Hãn quá Long Thủy đê” (Đi đánh Đèo Cát Hãn trở về qua đường đê Long Thủy), thuộc tỉnh Hòa Bình nay tỉnh Phú Thọ có niên đại tháng 3 năm 1432. Như vậy, xét về niên đại, Bia ma nhai Ngự chế trên núi Phia Tém là tấm bia xuất hiện sớm nhất trong ba tấm bia Ngự chế của vua Lê Thái Tổ. Niên đại sớm nhất, cùng với sự khác biệt về hình thức, thư pháp và văn phong, tạo thêm sự độc đáo của văn bia này trong hệ thống bia ma nhai nói chung và văn bia ma nhai của vua Lê Thái Tổ nói riêng.
Bên cạnh tính độc bản và hình thức đặc biệt, Bia ma nhai Ngự chế của vua Lê Thái Tổ mang giá trị đặc biệt về mặt lịch sử, gắn với một sự kiện quan trọng của đất nước và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Lê Lợi. Đó là sự kiện vua Lê Thái Tổ thân chinh đem quân lên Cao Bằng để dẹp Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái vào năm 1430. Việc vua Lê Thái Tổ thân chinh lên dẹp Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái cho thấy nhà vua thực lòng muốn yên dân trăm họ. Lời khuyên được gửi gắm qua văn bia thể hiện tư tưởng hướng con người đến cuộc sống hiền lành, lương thiện, nằm trong kỷ cương phép nước để có được cuộc sống hạnh phúc, đồng thời, đề cao việc giữ gìn tư cách của bản thân để tiếng tăm được lưu truyền lâu dài.
Một giá trị khác làm nên sự đặc biệt của Bia ma nhai Ngự chế là giá trị văn học và nghệ thuật. Nội dung tấm bia là một bài thơ theo thể thất ngôn bát cú, một thể thơ tiêu biểu của văn học trung đại. Những câu thơ được khắc trực tiếp trên vách đá khiến tác phẩm văn chương không chỉ tồn tại trong không gian của thư tịch mà còn gắn chặt với địa hình, cảnh quan và sự kiện lịch sử cụ thể. Vì vậy, văn bia Ngự chế có thể được nhìn nhận như một trong những tác phẩm văn học cổ, là áng văn chương vô giá và quý hiếm trong kho tàng văn học cổ Việt Nam.
Bia Ngự chế của vua Lê Thái Tổ trên núi Phia Tém còn là nguồn tư liệu hết sức quý báu phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử vùng đất Cao Bằng cũng như lịch sử dân tộc Việt Nam dưới thời Lê Sơ. Từ nội dung văn bia, niên đại, vị trí, thư pháp đến hình thức khắc trên vách đá, các nhà nghiên cứu có thể tiếp cận nhiều lớp thông tin khác nhau về lịch sử, văn hóa và xã hội của một thời kỳ. Đặc biệt, bia Ngự chế là dạng bia ghi bút tích của các vua - loại bia rất hiếm gặp trên đất nước ta. Vì vậy, bia có giá trị quan trọng, là tài liệu quý khi nghiên cứu về loại hình bia ma nhai.
Giá trị của di sản vì thế không chỉ dành cho hoạt động tham quan, tìm hiểu lịch sử mà còn có ý nghĩa lâu dài đối với nghiên cứu khoa học. Mỗi dòng chữ, mỗi đặc điểm của vách đá, mỗi dấu tích của kỹ thuật khắc chữ đều có thể trở thành dữ liệu để tiếp tục giải mã những vấn đề còn bỏ ngỏ.
Trách nhiệm gìn giữ và đánh thức giá trị di sản
Với những giá trị độc đáo, riêng có, di tích Bia Ngự chế đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 2124/QĐ-BVHTTDL ngày 12/7/2011. Đặc biệt, với những giá trị độc đáo, đặc sắc về khoa học, lịch sử và tính độc bản, Bia ma nhai Ngự chế của vua Lê Thái Tổ đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia tại Quyết định số 88/QĐ-TTg ngày 15/01/2020.

Cận cảnh bài thơ thất ngôn bát cú được khắc trên vách đá, là hiện vật gốc độc bản mang giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật của Bia ma nhai Ngự chế.
Danh hiệu Bảo vật quốc gia không chỉ khẳng định tầm vóc của hiện vật mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn trong công tác bảo tồn, nghiên cứu và phát huy giá trị di sản. Bởi đây là hiện vật gốc độc bản không thể thay thế, nếu bị tổn hại, những giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật gắn với hiện vật sẽ không thể phục hồi đầy đủ bằng một bản sao. Vì vậy, bảo vệ nguyên trạng, tính xác thực và sự toàn vẹn của bảo vật phải được đặt lên hàng đầu.
Đẩy mạnh số hóa là giải pháp quan trọng. Có thể sử dụng công nghệ chụp ảnh độ phân giải cao, quét 3D để lưu giữ toàn bộ bề mặt văn bia, từng nét chữ, đặc điểm thư pháp và không gian cảnh quan xung quanh. Cùng với đó, xây dựng cơ sở dữ liệu số về văn bia gồm hình ảnh, bản phiên âm, bản dịch, tư liệu Hán Nôm, kết quả nghiên cứu lịch sử, văn học, thư pháp. Đây là bản lưu có giá trị lâu dài, vừa phục vụ nghiên cứu, vừa hạn chế việc tiếp xúc trực tiếp với hiện vật.
Cùng với bảo tồn vật thể, cần tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về Bia ma nhai Ngự chế trên nhiều phương diện: lịch sử, Hán Nôm, văn học, thư pháp, địa chất và văn hóa vùng biên. Việc tập hợp các nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo để giải mã, công bố và giới thiệu những giá trị mới sẽ góp phần khẳng định hơn nữa vị trí của bảo vật trong hệ thống di sản Việt Nam.
Giá trị của Bia ma nhai Ngự chế cần được đưa đến gần hơn với công chúng bằng phương thức giới thiệu hiện đại như mã QR, thuyết minh số, bản đồ số, hình ảnh 3D, phim tư liệu và các sản phẩm trực quan… sẽ giúp di sản trở nên sinh động, dễ tiếp cận hơn, nhất là với thế hệ trẻ.
Trong phát triển du lịch, có thể kết nối Bia ma nhai Ngự chế với các di tích, danh thắng và điểm đến văn hóa khác của xã Hòa An nói riêng và tỉnh Cao Bằng nói chung, hình thành những tuyến trải nghiệm về lịch sử, di sản và văn hóa vùng biên. Tuy nhiên, khai thác du lịch phải gắn với bảo vệ di tích; kiểm soát lượng khách, khoảng cách tiếp cận và các hoạt động có nguy cơ tác động đến vách đá, văn bia.
Đặc biệt, cần phát huy giá trị bảo vật trong giáo dục lịch sử địa phương. Các chương trình tham quan, trải nghiệm, tìm hiểu văn bia, cuộc thi về di sản giúp học sinh trực tiếp tiếp cận một chứng tích lịch sử quý giá ngay trên quê hương mình. Qua đó, lịch sử không còn là những trang sách khô cứng mà trở thành câu chuyện hiện hữu trên từng nét chữ, từng vách đá; góp phần bồi đắp tình yêu quê hương, ý thức bảo vệ di sản và chủ quyền đất nước.
Vai trò của cộng đồng địa phương cũng cần được coi trọng. Khi người dân hiểu rõ giá trị độc bản của Bia ma nhai Ngự chế, họ sẽ trở thành những “người bảo vệ di sản” ngay từ cơ sở, cùng tham gia giữ gìn cảnh quan, phát hiện nguy cơ xâm hại và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh quanh di tích.
Gần 600 năm trước, những dòng chữ Ngự chế được khắc vào vách đá để lưu lại dấu tích lịch sử. Hôm nay, gìn giữ những dòng chữ ấy không chỉ là bảo vệ một hiện vật cổ mà còn là gìn giữ một phần ký ức của dân tộc. Phát huy giá trị của Bia ma nhai Ngự chế chính là để “trang sử bằng đá” giữa non nước Cao Bằng tiếp tục được đọc, được hiểu và được trân trọng qua nhiều thế hệ.

