Biến số vĩ mô và nghịch lý 'khát vốn': Doanh nghiệp chủ động định vị lại cấu trúc tài chính
Bước vào chặng đua nước rút của năm 2026, bức tranh kinh tế vĩ mô đang chứng kiến sự giằng co quyết liệt khi nền kinh tế đã phát đi nhiều tín hiệu phục hồi tích cực, song ở bình diện vi mô, cộng đồng doanh nghiệp nội địa vẫn đang phải gồng mình chống đỡ những áp lực bủa vây từ biến động tỷ giá, lãi suất và sự leo thang của giá năng lượng.
Để tháo gỡ điểm nghẽn này, việc định vị lại cấu trúc tài chính, giảm sự lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng không chỉ là lời giải cho bài toán sinh tồn trước mắt, mà còn là bước đệm để khối tư nhân chủ động và nỗ lực nhiều hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh, đủ sức vươn ra biển lớn.

Chuẩn bị tiền mặt cho khách hàng vay vốn tại Vietcombank chi nhánh Hà Nội. Ảnh minh họa: Trần Việt/TTXVN
Việc khơi thông nguồn vốn và tái định vị cấu trúc tài chính cũng chính là một trong những thông điệp trọng tâm xuyên suốt quá trình triển khai đề án: "Hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh phục hồi và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua tuyên truyền, phổ biến chính sách và nâng cao năng lực" (giai đoạn 2023–2026). Đây là đề án do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chủ trì thực hiện, nhằm đồng hành, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp và các hộ kinh doanh nắm bắt, áp dụng hiệu quả các chính sách của Nhà nước để vững vàng vượt qua những cú sốc vĩ mô.
Nhìn từ lăng kính vĩ mô, nền kinh tế Việt Nam giai đoạn cuối năm ghi nhận những nghịch lý. Dù tốc độ tăng trưởng quý III/2026 chạm mốc 9,95% thì thực tế vẫn đang diễn ra tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu; nhất là tại eo biển Hormuz, đã đẩy giá dầu Brent có thời điểm vượt ngưỡng 115 USD/thùng. Chi phí năng lượng đắt đỏ không chỉ làm tăng cước phí logistics mà còn tình trạng thâm hụt thương mại lên tới 19,42 tỷ USD, tác động nghiêm trọng biên lợi nhuận của khối sản xuất nội địa.
TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phân tích, sự dịch chuyển của kinh tế thế giới hiện bị chi phối bởi 6 xu hướng lớn; trong đó, nổi cộm nhất là làn sóng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), sự định hình lại các chuỗi cung ứng và hệ lụy từ phân mảnh địa kinh tế. Đặc biệt, sự lệch pha trong chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) hay Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đang tạo ra những luồng biến động khó lường đối với tỷ giá và dòng vốn đầu tư quốc tế. Chính những lực cản vĩ mô từ bên ngoài này đã trực tiếp dồn nén, tạo thành sức ép "kép" lên cả mặt bằng lãi suất lẫn bài toán xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam.
Không chỉ dừng lại ở biến động về giá dầu thô nhập khẩu, bài toán năng lượng và chi phí hạ tầng nội địa cũng đang đặt nhiều thách thức. Hết quý III năm nay, chỉ số giá sản xuất dịch vụ vận tải, kho bãi đã tăng tới 6,77%, làm giảm biên lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất khẩu. Điều này buộc các nhà máy sản xuất phải tính đến phương án dự phòng đắt đỏ, vô hình trung đẩy giá thành sản phẩm lên cao và triệt tiêu lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế, TS. Nguyễn Đức Hiển nhấn mạnh.
Đại diện cơ quan tập hợp tiếng nói cộng đồng doanh nghiệp, ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Chủ tịch VCCI thẳng thắn nhìn nhận, sức ép chi phí đầu vào tăng cao buộc các doanh nghiệp phải tìm đến đòn bảy tài chính, song cánh cửa tín dụng truyền thống lúc này lại đang bộc lộ những giới hạn mang tính cơ cấu. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho thấy, kết thúc quý III/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng 11,59%, trong khi tốc độ huy động vốn chỉ nhích lên mức 9,78%. Hơn nữa, dù Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước liên tục yêu cầu tiết giảm chi phí để định hướng giảm lãi suất cho vay từ 1,5 đến 2% đối với các lĩnh vực ưu tiên, khâu thực thi thực tế vẫn gặp nhiều vướng mắc. Nút thắt lớn nhất chính là yêu cầu khắt khe về tài sản thế chấp, khiến hàng nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) không thể hấp thụ được dòng vốn tín dụng ngay cả khi họ đang nắm trong tay các đơn hàng xuất khẩu tiềm năng.
Sự cạn kiệt dư địa giảm lãi suất của kênh tín dụng truyền thống đang buộc các doanh nghiệp phải thay đổi tư duy huy động vốn. Thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp đang nổi lên như một kênh huy động vốn trung và dài hạn tất yếu để cân bằng rủi ro đòn bảy. Thực tế cho thấy, dòng vốn đang có sự dịch chuyển rõ nét khi giá trị huy động qua kênh chào bán cổ phiếu trong 9 tháng đạt 135.940 tỷ đồng, tăng tới 68,82% so với cùng kỳ.
Theo các chuyên gia kinh tế, dù Ngân hàng Nhà nước kiên định với định hướng giảm lãi suất cho vay từ 1,5 đến 2% nhằm hỗ trợ sản xuất kinh doanh, song việc đưa dòng vốn rẻ đến tận tay doanh nghiệp vẫn vấp phải nhiều rào cản. Thêm vào đó, điểm nghẽn về tài sản bảo đảm truyền thống khiến hàng chục nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) – dù đang có trong tay hợp đồng xuất khẩu – vẫn rất khó tiếp cận tín dụng.
Đứng trước sự giới hạn của tín dụng ngân hàng, việc đa dạng hóa các kênh huy động là rất cần thiết. Đi sâu vào bài toán tái cấu trúc nguồn vốn, ông Nguyễn Đức Sung, Giám đốc Kinh doanh Công ty cổ phần Chứng khoán LPS, cho rằng thị trường vốn (chứng khoán, trái phiếu) đang mang lại dư địa rất lớn để doanh nghiệp giảm bớt sự phụ thuộc vào các khoản vay có tài sản thế chấp.
Tuy nhiên, theo ông Sung, bài toán tiếp theo là phải mở rộng nguồn vốn dài hạn cho nhiều doanh nghiệp hơn, bằng cách kết nối các doanh nghiệp có hồ sơ tốt với những nhà đầu tư có năng lực thẩm định. Sự e ngại của nhà đầu tư phần lớn xuất phát từ chất lượng minh bạch thông tin của khối tư nhân. Để khơi thông dòng vốn này, doanh nghiệp cần chủ động rà soát nghĩa vụ nợ, quản trị chặt chẽ dòng tiền và chuẩn hóa báo cáo tài chính. Việc chủ động minh bạch hóa hồ sơ trước khi tìm kiếm sự hỗ trợ từ các quỹ đầu tư chính là "tấm vé thông hành" để doanh nghiệp vươn mình tiếp cận các công cụ tài chính dài hạn.
Giai đoạn cuối năm 2026 và triển vọng 2027 sẽ tiếp tục là bài kiểm tra khắc nghiệt về năng lực quản trị rủi ro của giới điều hành doanh nghiệp. Trước những lực cản vĩ mô, việc chỉ trông chờ vào những gói hỗ trợ ngắn hạn hay các dự báo tĩnh là không đủ. Sự sống còn lúc này nằm ở khả năng linh hoạt xoay trục mô hình tăng trưởng. Các chuyên gia kinh tế khuyến nghị, thay vì bó hẹp ở các thị trường truyền thống, doanh nghiệp cần tận dụng hiệu quả các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) để khai mở những thị trường mới nổi như khu vực Trung Đông, Nam Mỹ hay nội khối ASEAN. Bên cạnh đó, việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng minh bạch, đáp ứng các tiêu chuẩn về Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG) không còn là lựa chọn mà là điều kiện bắt buộc để khối SME giữ chân dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và trở thành nhà cung cấp cho mạng lưới toàn cầu.
Có thể thấy, thách thức bao giờ cũng đi liền với những cơ hội bứt phá. Bằng cách chủ động chuẩn bị các kịch bản ứng phó đa dạng, minh bạch hóa cấu trúc tài chính và kiên định với mục tiêu phát triển bền vững, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể biến những cơn gió ngược của môi trường kinh tế quốc tế thành lực đẩy để vươn mình, kiến tạo lợi thế cạnh tranh vững vàng trong kỷ nguyên hội nhập.
