Bình yên bên dòng Đà giang
ĐBP - Giữa khung cảnh núi non hùng vĩ, các thôn người Dao ở xã Tủa Thàng nép mình bên dòng Đà giang yên bình. Những ngày đầu hè, khi mùa nước rút, nhịp sống nơi đây cũng chuyển sang một guồng quay quen thuộc. Trên nương ngô, nương sắn vừa gieo trồng, cây xanh bén rễ. Dưới bến sông, những chiếc thuyền đánh cá tấp nập ngược xuôi trong làn sương sớm. Trong thôn, tiếng kẽo kẹt khung cửi đều đặn vang lên dưới mỗi nếp nhà.

Dòng Đà giang mùa nước rút.
Trong 4 thôn người Dao Làn Tẻn ở Tủa Thàng, hai thôn Nậm Bành, Huổi Lóng nép mình bên dòng Đà giang. Cách xa phố thị, nhịp sống nơi đây là một vòng tuần hoàn yên bình giữa đại ngàn Tây Bắc.
Huổi Lóng có 114 hộ với gần 600 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao sinh sống. Từ lâu, người dân nơi đây đã định cư, gắn bó với núi đồi, nương và dòng Đà giang như một phần máu thịt.
Theo các bậc cao niên trong thôn, cái tên Huổi Lóng bắt nguồn từ một dòng suối chảy qua khu vực này và đổ vào dòng Đà giang. Theo tiếng đồng bào dân tộc địa phương, “Huổi” có nghĩa là nước, dòng suối ấy chảy quanh năm và luôn có nhiệt độ ấm nóng hơn những con suối khác trong vùng nên người dân gọi là Huổi Lóng. Cái tên ấy được truyền từ đời này sang đời khác, trở thành tên chính thức của thôn cho đến ngày nay.
Bên dòng suối ấm áp ấy, biết bao thế hệ người Dao đã sinh sống. Dù cuộc sống hiện đại có nhiều đổi thay, Huổi Lóng vẫn giữ được nét văn hóa và sự bình yên vốn có của một bản làng vùng cao ven sông.
Những ngày này, khi vụ gieo trồng cơ bản đã xong, Huổi Lóng bước vào thời điểm đặc biệt trong năm. Người dân nơi đây gọi là “mùa đi làm ăn xa”. Sau khi gieo ngô, cấy lúa xong, khoảng 80% lao động chính trong gia đình lại khăn gói xuống các công ty, khu công nghiệp tại các tỉnh: Bắc Ninh, Phú Thọ và TP. Hà Nội... để làm công nhân. Phải đến cuối tháng 9, tháng 10, người trẻ mới quay về thôn, phụ giúp gia đình thu hoạch mùa vụ.
Tuy nhiên, sự vắng vẻ ấy không đồng nghĩa với nhịp sống nơi đây chậm lại. Trên mặt nước Đà giang, các hoạt động đánh bắt, mua bán thủy sản vẫn diễn ra đều đặn mỗi ngày, là nguồn sinh kế quan trọng đối với nhiều hộ gia đình nơi đây.
Từ sớm tinh mơ, khi sương còn phủ trên mặt sông, những chiếc thuyền nhỏ đã rời bến. Người kéo lưới, người kéo vó bè, người kiểm tra những chiếc rọ bẫy tôm. Mặt sông mùa nước rút nhộn nhịp bởi tiếng máy nổ, tiếng gọi nhau, trò chuyện về thành quả sau chuyến đánh bắt.
Ông Lý A Hy, thôn Huổi Lóng chia sẻ: Thường thì chúng tôi sẽ bắt đầu đánh bắt từ 2 giờ đến 5 giờ sáng. Người kéo lưới bắt được chủ yếu cá rô phi, ngáo, măng... còn bẫy thì chủ yếu thu được tôm và cá tạp. Tôi có 150 rọ bắt tôm, sau khi đặt mồi, đặt bẫy sẽ luân phiên thu hoạch. Thông thường, mỗi ngày sẽ kéo khoảng 50 rọ, mỗi buổi được 7 - 10kg tôm. Với giá bán dao động khoảng 50.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, mỗi buổi mang lại thu nhập từ 300.000 - 500.000 đồng, giúp gia đình có thêm nguồn trang trải cuộc sống.

Phụ nữ dân tộc Dao bên khung cửi.
Khi những người đàn ông tìm kế sinh nhai trên sông, phụ nữ trong thôn lại có phần việc riêng. Dưới hiên nhà, những người phụ nữ ngồi bên khung cửi, tay thoăn thoắt đưa thoi. Tiếng kẽo kẹt, lách cách từ gỗ, từ tre vang lên, tiếng nhịp nhàng đều đặn giữa không gian yên tĩnh như nhịp thở của văn hóa truyền thống, xuyên suốt qua các thế hệ người Dao nơi đây.
Chị Phàn Thị Hiệp, thôn Huổi Lóng cho biết: Con gái Dao từ nhỏ đã được các bà, các mẹ dạy cách bật bông, se sợi, dệt vải. Trước đây hầu như gia đình nào cũng tự dệt để may quần áo cho gia đình. Bây giờ cuộc sống có nhiều thay đổi, sự lựa chọn nhiều hơn, quần áo may sẵn phổ biến nhưng phụ nữ trong bản vẫn duy trì nghề dệt bởi từng đường kim, mũi chỉ, các công đoạn đều được gửi gắm tâm tư, tình cảm. Mỗi bộ quần áo được may khéo léo, vừa vặn để sử dụng dịp lễ tết, hội hè của các thành viên trong gia đình là minh chứng cho sự khéo léo, đảm đang, biết vun vén cho gia đình của người phụ nữ dân tộc Dao.
Chiều buông trên dòng Đà giang, những chiếc thuyền kéo rọ, thả vó bè lần lượt cập bến. Khói bếp lan tỏa từ những mái nhà nép mình bên sườn núi. Trong thôn, tiếng trẻ nhỏ nô đùa cùng tiếng người lớn cười nói, trò chuyện.
Dẫu cuộc sống đang từng ngày đổi thay, nhưng ở Huổi Lóng, nhịp sống gắn liền với núi rừng, sông nước vẫn được gìn giữ qua các thế hệ. Từ câu chuyện ngày lập thôn đến nét văn hóa truyền thống tới nhịp sống sông nước thường ngày, tất cả đã tạo nên một Huổi Lóng bình yên, đậm đà bản sắc giữa đại ngàn Tây Bắc.











