Bộ Chính trị định hướng Hà Nội trở thành TP toàn cầu năm 2065
Tổng bí thư Tô Lâm vừa ký ban hành Nghị quyết số 02 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết của Bộ Chính trị do Tổng Bí thư Tô Lâm ký đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể đến 2035, 2045 và hướng đến 100 năm giải phóng thủ đô Hà Nội (1954) và đến 2065.
Đến 2035,Hà Nội trở thành đô thị xanh, thông minh, hiện đại; hội tụ tinh hoa văn hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; có năng lực cạnh tranh cao, chính trị - xã hội ổn định, thành phố thanh bình, người dân hạnh phúc, trở thành điểm đến an toàn, thân thiện và hấp dẫn.
Hình thành một số trung tâm giáo dục - đào tạo, y tế chất lượng cao thuộc nhóm dẫn đầu trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương; trung tâm dịch vụ tài chính, thương mại và đổi mới sáng tạo quan trọng cấp quốc gia, khu vực và quốc tế; trung tâm nghiên cứu, phát triển; giữ vai trò hạt nhân trong các chuỗi liên kết phát triển vùng thủ đô, vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc, cả nước, khu vực và toàn cầu.

Bộ Chính trị định hình Hà Nội thành thành phố toàn cầu vào năm 2065. Ảnh: Báo QĐND.
Đến 2045,Hà Nội trở thành một trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi hội tụ tri thức và công nghệ; hạ tầng, quản trị đô thị hiện đại; người dân có chất lượng sống cao; xã hội văn minh, an toàn, đáng sống, hạnh phúc.
Hướng tới 100 năm giải phóng thủ đô (2054) và đến 2065: Hà Nội là thành phố toàn cầu, có trình độ phát triển cao và bền vững; thuộc nhóm các thủ đô có chất lượng sống và hạnh phúc cao trên thế giới.
Nghị quyết đề ra chỉ tiêu cụ thể cho giai đoạn 2026-2030,tăng trưởng GRDP bình quân trên 11%/năm; đến năm 2030, quy mô GRDP đạt trên 113 tỉ USD, bình quân đầu người đạt tối thiểu 12.000 USD.
Giai đoạn 2031-2035,tăng trưởng GRDP bình quân từ 11% trở lên; đến năm 2035, quy mô GRDP đạt khoảng 200 tỉ USD, bình quân đầu người đạt tối thiểu 18.800 USD…
Tỉ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt 60%; tỉ lệ đóng góp của kinh tế số vào tăng trưởng đạt 50%; tỉ trọng công nghiệp văn hóa đạt từ 10% trở lên.
Giai đoạn 2036-2045: Tăng trưởng GRDP bình quân đạt 11%/năm. Đến năm 2045, quy mô GRDP đạt khoảng 640 tỉ USD, bình quân đầu người đạt tối thiểu 42.000 USD, thuộc nhóm cao trong khu vực.
Tiếp tục nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng; tăng tỉ trọng kinh tế số, công nghiệp văn hóa trong GRDP; duy trì chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức cao.
Giai đoạn 2046-2065:Tăng trưởng GRDP bình quân trên 5%/năm. Đến năm 2065, quy mô GRDP đạt khoảng 1.920 tỉ USD, bình quân đầu người đạt tối thiểu 95.000 USD, thuộc nhóm cao trên thế giới.
Nghiên cứu xây sân bay quốc tế thứ hai của vùng thủ đô
Nghị quyết nêu 9 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu. Trong đó, về quy hoạch phát triển thủ đô với tầm nhìn dài hạn, ổn định, nghị quyết nêu rõ xây dựng quy hoạch tổng thể thủ đô ổn định, lâu dài, tầm nhìn 100 năm.
Nghiên cứu mở rộng không gian phát triển, định hình rõ mục tiêu xây dựng thủ đô "văn hiến - văn minh - hiện đại - hạnh phúc", trung tâm tri thức, sáng tạo và dịch vụ giá trị gia tăng cao của quốc gia.
Chuyển từ "quy hoạch tĩnh" sang "quy hoạch động và mở", gắn với chiến lược phát triển hạ tầng, ứng dụng dữ liệu số và các nền tảng phân tích, mô phỏng đô thị thông minh; bảo đảm phát triển đô thị có căn cứ khoa học, minh bạch và hiệu quả lâu dài.
Phát triển Hà Nội theo mô hình chùm đô thị, đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm; kết nối đồng bộ bằng hệ thống hạ tầng chiến lược và mạng lưới giao thông công cộng khối lượng lớn.
Chuyển đổi căn bản từ cấu trúc "đơn cực tập trung" sang cấu trúc đa trung tâm, đa cực - liên kết - lan tỏa, trong đó mỗi cực phát triển là một trung tâm động lực có chức năng chuyên biệt, vừa tự chủ, vừa gắn kết hữu cơ trong chỉnh thể thống nhất của thủ đô, vùng thủ đô và cả nước.
Duy trì và phát triển hành lang sinh thái - văn hóa sông Hồng - sông Đuống - sông Đáy - sông Nhuệ - sông Tô Lịch và rừng đặc dụng Ba Vì, làm khung sinh thái nền tảng cho cấu trúc đô thị.
Xác định hạ tầng là trục xương sống của phát triển, giữ vai trò dẫn dắt tổ chức không gian và phân bổ các hoạt động kinh tế - xã hội.
Ưu tiên phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông, nhất là hạ tầng giao thông kết nối các vùng động lực, các hành lang phát triển của thủ đô, kết nối nội vùng và liên vùng.
Đầu tư xây dựng nhanh hệ thống đường sắt đô thị, phấn đấu đến năm 2030 hoàn thành khoảng 100 km; từng bước làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực đầu tư, quản lý và vận hành (đến năm 2030 làm chủ khoảng 50% khối lượng công việc; đến năm 2050 cơ bản làm chủ toàn bộ).
Phát triển đường sắt tốc độ cao kết nối vùng, cảng sông, sân bay. Khai thác lưỡng dụng sân bay Gia Lâm, Hòa Lạc; nghiên cứu xây dựng sân bay quốc tế thứ hai của vùng thủ đô tại khu vực phía Nam.
Nghị quyết nhấn mạnh đẩy mạnh liên kết, phát triển vùng. Theo đó, ưu tiên bố trí nguồn lực để thúc đẩy liên kết giữa Hà Nội với các tỉnh, TP trong vùng. Hình thành không gian phát triển vùng thủ đô mở, vận hành theo cơ chế mềm, trong đó Hà Nội giữ vai trò là hạt nhân, chủ trì dẫn dắt...
Nhóm nhiệm vụ nữa, xây dựng thể chế đột phá phát triển thủ đô. Trong đó, hoàn thiện thể chế đồng bộ, bảo đảm vượt trội, ưu việt, đủ năng lực xử lý hiệu quả các vấn đề của Hà Nội, của vùng thủ đô, vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc và những vấn đề mang tầm quốc gia, quốc tế...
Nhóm nhiệm vụ khác là phát triển toàn diện văn hóa, con người thủ đô. Cùng với đó, xác lập mô hình tăng trưởng mới của thủ đô, lấy tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nguồn lực văn hóa và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực trung tâm, là yếu tố then chốt tạo đột phá về năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh.













