Bộ Công Thương: Nhiều kết quả nổi bật trong triển khai Nghị quyết 57

Bộ Công Thương đã tổ chức quán triệt Nghị quyết số 57-NQ/TW, xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt cho tăng trưởng.

Nhìn từ những con số

Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết 57-NQ/TW không chỉ định hướng phát triển một số lĩnh vực chuyên ngành mà còn là một nền tảng quan trọng để tổ chức thực hiện mô hình tăng trưởng, mô hình phát triển mới.

Các cuộc họp của Ban Chỉ đạo, Bộ Công Thương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06

Các cuộc họp của Ban Chỉ đạo, Bộ Công Thương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06

Trong thời gian qua, Bộ Công Thương đã tổ chức quán triệt Nghị quyết số 57-NQ/TW, xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt để nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng, bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy tự chủ công nghiệp, hiện đại hóa thương mại và quản trị nhà nước ngành Công Thương. Người đứng đầu các đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp về tiến độ, chất lượng, kết quả thực hiện; chuyển trọng tâm từ quán triệt, khởi động sang chuẩn hóa, mở rộng, đo lường kết quả thực chất.

Theo thống kê trên hệ thống theo dõi, giám sát nhiệm vụ, tính đến ngày 16/6/2026, Bộ Công Thương được giao 287 nhiệm vụ; đã hoàn thành 158 nhiệm vụ (trong đó 123 nhiệm vụ hoàn thành đúng hạn, 35 nhiệm vụ hoàn thành quá hạn); đang thực hiện đúng hạn 30 nhiệm vụ; 99 nhiệm vụ thường xuyên; không có nhiệm vụ quá hạn chưa hoàn thành. Đây là cơ sở quan trọng để Bộ tiếp tục rà soát, lượng hóa kết quả, xác định rõ sản phẩm đầu ra, trách nhiệm đơn vị chủ trì và mốc hoàn thành trong 6 tháng cuối năm 2026.

Có thể nói, việc triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW được Bộ Công Thương thực hiện đồng bộ, quyết liệt, qua đó tạo nên những chuyển biến tích cực trên nhiều lĩnh vực.

Đơn cử, về chuyển đổi số quốc gia, ghi nhận nhiều kết quả nổi bật. Cụ thể, về thủ tục hành chính (TTHC) và dịch vụ công trực tuyến, đến ngày 15/6/2026: Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung của Bộ đã cấu hình 503 TTHC, đạt 100%; từ ngày 1/1/2026 đến ngày 15/6/2026 tiếp nhận 67.850 hồ sơ, trong đó 67.145 hồ sơ trực tuyến, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt khoảng 99%.

Bộ đã kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để cắt giảm thành phần hồ sơ; 162 TTHC đã được tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ theo hướng toàn trình về dữ liệu.

Bộ hiện có 511 TTHC được công khai đầy đủ trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, gồm 197 TTHC cấp Bộ, 37 TTHC thực hiện ở cấp Bộ và cấp tỉnh, 261 TTHC cấp tỉnh, 16 TTHC cấp xã. Hệ thống thông tin giải quyết TTHC của Bộ đã kết nối Cổng Dịch vụ công quốc gia và đưa vào sử dụng chính thức từ ngày 1/1/2026, đồng thời hoàn thành kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia mới do Bộ Công an chủ trì để sẵn sàng vận hành khi hệ thống chính thức hoạt động.

Về hạ tầng, kiến trúc số: Bộ Công Thương duy trì vận hành Trung tâm dữ liệu an toàn, ổn định; các nền tảng số dùng chung của Bộ được triển khai tập trung, gồm hệ thống quản lý văn bản, hệ thống thông tin giải quyết TTHC, cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại, hệ thống điều hành, các nền tảng phục vụ chỉ đạo, điều hành và đào tạo trực tuyến.

Bên cạnh đó, Bộ đã phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ kết nối thành công với Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp thông qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia.

Bộ đã hoàn thành chia sẻ dữ liệu với Bộ Tài chính về website, ứng dụng thương mại điện tử bán hàng và cung cấp dịch vụ thương mại điện tử; hoàn thành triển khai hệ thống theo dõi nhiệm vụ tích hợp với hệ thống theo dõi nhiệm vụ của Chính phủ; Cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại đã kết nối kỹ thuật thành công để đồng bộ dữ liệu sang Trung tâm dữ liệu quốc gia.

Cơ sở dữ liệu hàng hóa hóa chất, tiền chất đã tạo lập khoảng 204.000 dữ liệu, đang đối soát với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để làm sạch dữ liệu và chuẩn bị tích hợp nhóm dữ liệu về hóa chất, giấy phép hóa chất trên VNeID.

Về nền tảng số quốc gia, nền tảng số dùng chung ngành, lĩnh vực: Bộ tiếp tục nâng cấp Hệ thống thông tin giải quyết TTHC theo hướng tập trung, thống nhất, dùng chung từ Trung ương đến địa phương.

Đối với 234 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền 4 cấp Bộ, Bộ đã triển khai 100% dịch vụ công trực tuyến, hiện có hơn 160.000 tổ chức, cá nhân sử dụng thường xuyên, lũy kế đã tiếp nhận trên 938.000 hồ sơ.

Bộ cũng đã xây dựng Kho quản lý dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân trên Hệ thống thông tin giải quyết TTHC của Bộ; kết nối với Kho dữ liệu điện tử trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp để tái sử dụng dữ liệu công dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu Đề án 06.

Ngoài ra, Bộ đã hướng dẫn các sàn thương mại điện tử triển khai xác thực, định danh người bán, người mua, hợp đồng điện tử thông qua nền tảng VNeID nhằm phòng, chống lừa đảo trên không gian mạng.

Động lực quan trọng cho phát triển

Một kết quả đáng chú ý khác đó là về dữ liệu số, Bộ Công Thương đã xây dựng cơ sở dữ liệu cán bộ, công chức, viên chức và hoàn thành đồng bộ dữ liệu của 9.780 cán bộ, công chức, viên chức với Cơ sở dữ liệu quốc gia do Bộ Nội vụ quản lý; công khai gần 40 cơ sở dữ liệu và dữ liệu mở trên Cổng dữ liệu mở của Bộ Công Thương.

Các cơ sở dữ liệu theo Kế hoạch số 02- KH/BCĐTW, Nghị quyết số 214/NQ-CP và Nghị quyết số 71/NQ-CP đã được phân công đơn vị chủ trì, trong đó ưu tiên cơ sở dữ liệu hàng hóa hóa chất, cơ sở dữ liệu kinh tế công nghiệp và thương mại, dữ liệu xuất nhập khẩu, dữ liệu thương mại điện tử, dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc và quản lý nhà nước theo thời gian thực.

Đối với truy xuất nguồn gốc hàng hóa, Bộ đã đưa vào vận hành hệ thống tại địa chỉ www.verigoods.vn từ ngày 23/12/2025, hỗ trợ doanh nghiệp khai báo, cập nhật thông tin và phục vụ công tác quản lý nhà nước. Hệ thống INS đã hoàn thành kết nối dữ liệu lên Cơ sở dữ liệu quốc gia và thống nhất kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia để thanh toán tiền phạt vi phạm hành chính. Các cơ sở dữ liệu đang tiếp tục được hoàn thiện theo yêu cầu đúng, đủ, sạch, sống, phục vụ quản lý điều hành, dự báo chính sách và phát triển kinh tế dữ liệu.

Về phát triển kinh tế số, xã hội số: Thương mại điện tử tiếp tục là động lực quan trọng của kinh tế số ngành Công Thương. Tỷ trọng thương mại điện tử B2C trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 13,9 tỷ USD, tăng 17,9% so với cùng kỳ.

Bộ Công Thương đã phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia năm 2026; triển khai Chương trình “Sức sống hàng Việt” nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt giới thiệu sản phẩm uy tín tới người tiêu dùng, kết hợp bán hàng trực tiếp qua QR Code và trên các nền tảng số.

Bên cạnh đó, Bộ đang tiếp tục thúc đẩy chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ và các chuỗi cung ứng sản xuất; triển khai Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035; chuẩn bị đưa vào vận hành các trung tâm kỹ thuật hỗ trợ phát triển công nghiệp cấp vùng để hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp công nghệ, tiêu chuẩn, đo lường, thử nghiệm và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước, khu vực và toàn cầu.

Về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Thực hiện Quyết định số 1131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Thông báo số 22-TB/CQTTBCĐ ngày 20/3/2026, Bộ Công Thương đã làm việc với Bộ Khoa học và Công nghệ, các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp ngành Công Thương, các viện, trường, hiệp hội để rà soát, đề xuất bài toán lớn, công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược gắn với nhu cầu phát triển của ngành.

Bộ đã phối hợp tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 về Danh mục công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược và Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 6/5/2026 về giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.

Tại Quyết định số 808/QĐ-TTg, Bộ Công Thương được giao 3 nhiệm vụ: Một là, bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng cao; hiện đại hóa hệ thống điện - nhiên liệu xanh, thông minh và tự chủ. Hai là, tự chủ công nghiệp, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và nâng cấp chuỗi giá trị sản xuất xanh, thông minh, giá trị gia tăng cao. Ba là, hiện đại hóa thương mại trong nước và ngoài nước bằng dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy.

Từ 3 bài toán lớn này, một hệ sinh thái các công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược đã được xác định, làm cơ sở để lựa chọn các doanh nghiệp hạt nhân, xây dựng các nhiệm vụ trọng điểm và huy động nguồn lực triển khai trong giai đoạn tới. Đây không chỉ là những mục tiêu phát triển của riêng ngành Công Thương mà còn là những vấn đề có ý nghĩa nền tảng đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đồng thời, hướng tới mục tiêu dài hạn là xây dựng một nền kinh tế có năng lực tự chủ cao hơn, sức chống chịu tốt hơn và khả năng cạnh tranh mạnh mẽ hơn trong kỷ nguyên phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Trong 6 tháng cuối năm 2026, Bộ Công Thương xác định trọng tâm là hoàn thành đúng hạn các nhiệm vụ được giao; chuyển mạnh từ “quán triệt, xây dựng kế hoạch” sang “triển khai có sản phẩm, đo lường bằng dữ liệu", lựa chọn nhiệm vụ có tác động lớn, có doanh nghiệp đầu mối và có khả năng nhân rộng.

Quỳnh Nga

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/bo-cong-thuong-nhieu-ket-qua-noi-bat-trong-trien-khai-nghi-quyet-57-464181.html