Bỏ điểm cộng IELTS, làm sao bảo đảm công bằng cho thí sinh?

Đề xuất bỏ điểm cộng IELTS nhằm hướng tới tuyển sinh minh bạch, thực chất hơn. Tuy nhiên, công bằng trong tuyển sinh cũng còn cần được nhìn từ cơ hội học tập ngoại ngữ.

Tuyển sinh hướng tới cùng thang đo chung

Đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định cho thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung tại Dự thảo Thông tư sửa đổi quy chế tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đang nhận được sự quan tâm đặc biệt.

Theo Bộ GDĐT, đây là điều chỉnh cấp thiết nhằm bảo đảm mọi thí sinh dự tuyển vào cùng một ngành được đánh giá theo cùng yêu cầu đầu vào, trên cùng thang đo; đồng thời làm cho tuyển sinh minh bạch, đơn giản và thực chất hơn.

Thí sinh tại Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Lê Khánh

Thí sinh tại Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh: Lê Khánh

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo – Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ GDĐT cho biết, từ năm 2023, Bộ đã yêu cầu quy đổi tương đương để giảm chênh lệch. Năm 2026, Bộ tiếp tục khống chế điểm cộng tối đa 10% tổng điểm xét tuyển.

Tuy nhiên, theo ông Thảo, khi mỗi trường tự quy đổi và tự xác định điểm cộng, sự khác biệt vẫn lớn. Vì vậy, đề xuất bỏ điểm cộng không phải thay đổi đột ngột về định hướng, mà là bước tiếp theo của lộ trình kiểm soát và chuẩn hóa.

Dữ liệu tuyển sinh năm 2026 cho thấy, hơn 37.300 thí sinh sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để được cộng điểm; trong đó trên 35.900 thí sinh sử dụng IELTS. IELTS 6.0 là mức phổ biến nhất, với 8.318 thí sinh, nhưng được các trường quy định thành 26 mức điểm cộng khác nhau.

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo khẳng định, quyền lợi chính đáng của người có chứng chỉ không bị mất. Thí sinh được dùng điểm thi hoặc chứng chỉ quy đổi tương đương. Chứng chỉ vẫn được dùng để chứng minh yêu cầu đầu vào của chương trình bằng ngoại ngữ.

“Điều được đề xuất chấm dứt chỉ là điểm cộng ngoài thang đánh giá, nhất là khi ngoại ngữ không thuộc yêu cầu đầu vào hoặc đã được ghi nhận trong tổ hợp”, ông Thảo cho hay.

Bỏ điểm cộng IELTS chưa giải quyết hết bài toán công bằng

Việc rà soát cơ chế điểm cộng trong tuyển sinh đại học là cần thiết. Tuy nhiên, hạn chế điểm cộng từ chứng chỉ IELTS cũng đặt ra câu hỏi rộng hơn về cách dạy và học tiếng Anh hiện nay.

Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai Đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, vấn đề cần được nhìn từ mục tiêu, cách thức dạy và học tiếng Anh trong nhà trường, thay vì chỉ dừng ở việc có hay không cộng điểm IELTS trong tuyển sinh đại học.

PGS.TS Lê Hiếu Học - Trưởng khoa Khoa học - Công nghệ Giáo dục, Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, câu chuyện IELTS trước hết cần được nhìn từ góc độ khoa học đo lường và đánh giá.

Theo PGS.TS Lê Hiếu Học, nếu một chương trình đào tạo bằng tiếng Anh hoặc có thể chứng minh năng lực ngoại ngữ là một yêu cầu đầu vào có liên quan trực tiếp đến khả năng học tập trong chương trình, thì việc sử dụng IELTS như một minh chứng về năng lực là có cơ sở. Nhưng nếu IELTS trở thành một khoản điểm cộng cho những ngành mà ngoại ngữ không phải là yêu cầu đầu vào quan trọng, thì cần xem xét lại sự phù hợp của cách sử dụng đó.

PGS.TS Lê Hiếu Học cũng cho rằng cần phân biệt công bằng trong tuyển sinh với công bằng về cơ hội học tập. Việc không cộng điểm IELTS có thể xử lý một vấn đề công bằng tại thời điểm xét tuyển, nhất là khi điểm cộng có thể làm thay đổi thứ tự trúng tuyển.

Nhưng biện pháp này không tự động giải quyết sự chênh lệch về điều kiện học ngoại ngữ, khả năng tiếp cận giáo viên, học liệu hay các kỳ thi chuẩn hóa giữa học sinh ở những vùng và hoàn cảnh khác nhau.

Vì vậy, PGS.TS Lê Hiếu Học cho rằng, về dài hạn, chính sách công bằng không chỉ cần điều chỉnh cách sử dụng chứng chỉ trong tuyển sinh mà còn phải mở rộng cơ hội để nhiều học sinh hơn có thể hình thành và chứng minh năng lực ngoại ngữ. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi chủ trương của Đảng và Nhà nước là dần đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai.

Nhấn mạnh yêu cầu về tính ổn định của chính sách, PGS.TS Lê Hiếu Học cho rằng, học sinh không chuẩn bị cho đại học trong vài tháng. Việc lựa chọn tổ hợp môn hay chuẩn bị cho kỳ thi đánh giá năng lực có thể kéo dài nhiều năm.

Vì vậy, ngay cả một thay đổi hợp lý về chuyên môn cũng cần có lộ trình đủ rõ, đủ sớm để người học và gia đình có thể thích ứng. Điều này vừa bảo đảm hiệu quả của chính sách, vừa hạn chế những bất lợi phát sinh đối với những học sinh đã chuẩn bị theo quy định trước đó.

Nguyễn Hoài

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/bo-diem-cong-ielts-lam-sao-bao-dam-cong-bang-cho-thi-sinh.html