Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời kiến nghị về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030
Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời kiến nghị của cử tri về Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2026-2030 và chính sách hỗ trợ vay vốn, tạo việc làm đáp ứng yêu cầu địa phương.

Một góc xã vùng cao Kỳ Thượng, Quảng Ninh. (Ảnh QUANG THỌ)
Đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026-2030
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có văn bản số 2242/BNNMT-VPĐP về việc trả lời kiến nghị của cử tri gửi tới sau Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV.
Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận được kiến nghị của cử tri tỉnh Thanh Hóa do Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội chuyển đến tại Văn bản số 2517/UBDNGS15 ngày 16/1/2026.
Cử tri kiến nghị: “Đề nghị đẩy nhanh tiến độ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2026-2030, bảo đảm ban hành sớm, đồng bộ, thống nhất, tạo cơ sở pháp lý để các địa phương chủ động xây dựng lộ trình, kế hoạch thực hiện ngay từ đầu giai đoạn; tiếp tục có cơ chế hỗ trợ nguồn lực phù hợp, nhất là về đầu tư hạ tầng thiết yếu, chuyển đổi sinh kế, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân miền núi; quan tâm, xem xét bổ sung nguồn vốn vay ưu đãi đối với các hộ có mức sống trung bình, như: nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm; vốn hộ kinh doanh vùng khó khăn…”.
Về kiến nghị này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg ngày 29/12/2025 (có hiệu lực thi hành từ ngày 15/2/2026), trong đó quy định: Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 (Phụ lục I); Quy định khung thí điểm xây dựng xã nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026-2030 (Phụ lục II); Quy định tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 (Phụ lục III).
Bảo đảm ưu tiên vốn ngân sách trung ương cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng thông tin thêm về chính sách hỗ trợ.
Theo đó, thực hiện Luật Đầu tư công; Nghị quyết số 257/2025/QH15 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 (sau đây gọi tắt là Chương trình); nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành trung ương có liên quan xây dựng quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình giai đoạn 2026-2030 theo nguyên tắc: “Thủ tướng Chính phủ giao dự toán, kế hoạch cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương theo tổng vốn Chương trình (chi tiết chi đầu tư và chi thường xuyên). Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp cho Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định phân bổ chi tiết nội dung, hoạt động, lĩnh vực chi, danh mục dự án đầu tư công của Chương trình theo định mức phân bổ ngân sách nhà nước do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định” (dự kiến hoàn thành trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 3/2026).
Như vậy, căn cứ tổng dự toán, kế hoạch vốn ngân sách trung ương thực hiện Chương trình được Thủ tướng Chính phủ giao; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách nhà nước của Chương trình và điều kiện thực tế của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng phương án phân bổ vốn và lồng ghép các nguồn lực cho cấp tỉnh, cấp xã để thực hiện Chương trình giai đoạn 2026-2030 (đã được phê duyệt tại Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/1/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường) trên địa bàn, trong đó có các nội dung về đầu tư hạ tầng thiết yếu, chuyển đổi sinh kế, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân miền núi..., trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định hoặc phân cấp cho Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định phân bổ chi tiết nội dung, hoạt động, lĩnh vực chi, danh mục dự án đầu tư công của Chương trình trên địa bàn xã; bảo đảm ưu tiên phân bổ vốn ngân sách trung ương cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới và hải đảo; không trùng lặp nội dung, đối tượng với các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, dự án khác thực hiện trên cùng địa bàn.
Chính sách hỗ trợ tạo việc làm, hộ kinh doanh vùng khó khăn
Văn bản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng trả lời kiến nghị của cử tri về chính sách hỗ trợ tạo việc làm, hộ kinh doanh vùng khó khăn.
Cụ thể, căn cứ Nghị định số 338/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về chính sách hỗ trợ tạo việc làm (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2026), quy định: “Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, mức vay tối đa là 10 tỷ đồng và không quá 200 triệu đồng cho 01 người lao động được hỗ trợ tạo việc làm, duy trì, mở rộng việc làm” (khoản 1 Điều 5), “Thời hạn vay vốn tối đa là 120 tháng” (Điều 6); Quyết định số 17/2023/QĐ-TTg ngày 5/6/2023 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 31/2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với hộ gia đình sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn và Quyết định số 92/2009/QĐ-TTg ngày 8/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn, quy định: “Các hộ gia đình theo quy định của pháp luật (bao gồm cả hộ gia đình làm kinh tế trang trại) thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm tại vùng khó khăn theo quy định tại Điều 2 và đáp ứng đủ điều kiện vay vốn theo quy định tại Điều 4 Quyết định này (sau đây gọi chung là người vay vốn)” (khoản 2 Điều 1), “Mức vốn cho vay tối đa là 100 triệu đồng/người vay vốn” (khoản 4 Điều 1).
Do vậy, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, căn cứ các quy định nêu trên, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương có liên quan tham mưu, triển khai tổ chức thực hiện; trường hợp các cơ quan, đơn vị, địa phương có liên quan trên địa bàn còn gặp vướng mắc trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ tạo việc làm, hộ kinh doanh vùng khó khăn theo kiến nghị của cử tri tỉnh Thanh Hóa, đề nghị Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa có văn bản đề nghị Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính để được hướng dẫn và giải quyết theo thẩm quyền.











