Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn: 'Đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên' để không học sinh nào mất cơ hội học tập
Bước vào năm học mới, ngành Giáo dục đứng trước yêu cầu chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển; từ hoàn thiện thể chế, chính sách sang tổ chức thực hiện và tạo ra những kết quả thực chất. Phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội trao đổi với Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn về những nhiệm vụ cơ bản, trọng tâm của năm học 2026-2027.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn. Ảnh: HNM
Từ chủ trương, chính sách đến kết quả thực chất
- Thưa Bộ trưởng, năm học mới 2026 - 2027 bắt đầu trong bối cảnh có nhiều thay đổi của ngành Giáo dục. Nếu phải chọn một vài nhiệm vụ trọng tâm nhất, Bộ trưởng muốn toàn ngành tập trung vào những điều gì để mỗi học sinh có một năm học thực chất, hiệu quả và hạnh phúc hơn?
Năm học vừa qua, toàn ngành đã tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách và chuẩn bị các điều kiện nguồn lực, tạo nền tảng cho những chuyển biến quan trọng. Năm học mới phải chuyển mạnh sang tổ chức thực hiện, tạo chuyển biến thực chất ở từng nhà trường, lớp học và đối với mỗi người học. Toàn ngành tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm.
Trước hết là, tiếp tục bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, trường lớp và đội ngũ giáo viên, hướng tới “đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên”. Đây là điều kiện thiết yếu để mở rộng cơ hội học tập công bằng, có chất lượng cho mọi người dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và đối với các nhóm yếu thế.
Thứ hai là, tập trung nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, xây dựng môi trường học đường an toàn, lành mạnh; tăng cường kỷ cương, phòng, chống bệnh thành tích, gian lận và tiêu cực trong học tập, thi cử, đánh giá để chất lượng giáo dục đi vào thực chất.
Thứ ba là, tập trung nguồn lực phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực trong các lĩnh vực công nghệ then chốt, chiến lược, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đó là những nhiệm vụ trọng tâm để chuyển từ hoàn thiện cơ chế, chính sách sang tổ chức thực hiện và tạo ra những kết quả cụ thể, thực chất; thước đo cuối cùng là người học có thêm cơ hội, học tốt hơn, nhà giáo có điều kiện dạy tốt hơn và nhà trường hoạt động hiệu quả hơn.
- Để những mục tiêu đó đi vào thực tế ngay từ đầu năm học, vấn đề bảo đảm điều kiện dạy và học được đặt ra như thế nào, thưa Bộ trưởng?
Năm học 2025-2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các bộ, ngành, địa phương đã tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách và chuẩn bị các điều kiện cần thiết. Năm học mới là giai đoạn phải đưa những chủ trương, chính sách đó vào cuộc sống bằng những kết quả cụ thể.
Để chuẩn bị trực tiếp cho năm học mới, Bộ cùng các địa phương phải khẩn trương hoàn thiện việc sắp xếp mạng lưới trường, lớp và bố trí đội ngũ giáo viên, bảo đảm các điều kiện thiết yếu cho dạy và học. Mục tiêu là “đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên”.
Đây là điều kiện tiên quyết để không học sinh nào bị mất cơ hội học tập vì thiếu trường, lớp hoặc giáo viên; đồng thời không để xảy ra tình trạng quá tải làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục.
Đặc biệt, đối với các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đang được triển khai, yêu cầu là bảo đảm tiến độ, chất lượng và chuẩn bị đồng bộ các điều kiện để đưa các trường đủ điều kiện vào hoạt động theo kế hoạch.
Bộ cùng các địa phương phải chuẩn bị đồng bộ từ tuyển sinh, tổ chức dạy học, bố trí đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên đến các điều kiện ăn, ở, chăm sóc và bảo đảm an toàn cho học sinh nội trú, để các trường thực sự mở rộng cơ hội học tập có chất lượng cho trẻ em vùng biên giới.
Về sách giáo khoa, năm học này triển khai chủ trương sử dụng một bộ sách giáo khoa thống nhất toàn quốc. Chính sách miễn phí sách giáo khoa cho học sinh theo lộ trình như sau: Từ năm học 2029 - 2030: Miễn phí sách giáo khoa cho tất cả học sinh trên phạm vi toàn quốc. Đối với các địa phương có khả năng cân đối ngân sách (hoặc xã hội hóa) được khuyến khích thực hiện chính sách miễn phí sách giáo khoa sớm hơn quy định trên; ưu tiên bố trí nguồn lực để triển khai trước đối với các địa bàn biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn và khả năng ngân sách của địa phương.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các đơn vị liên quan phối hợp với các sở giáo dục và đào tạo tiếp tục rà soát nhu cầu, tổ chức cung ứng đầy đủ, kịp thời sách giáo khoa cho học sinh, nhất là những trường hợp chưa đăng ký hoặc có nhu cầu bổ sung.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn. Ảnh: HNM
Quản trị bằng mục tiêu, dữ liệu và nền tảng số
- Một yêu cầu lớn đang được đặt ra là chuyển từ tư duy quản lý giáo dục sang quản trị phát triển giáo dục. Theo Bộ trưởng, sự chuyển đổi này sẽ diễn ra như thế nào và tác động ra sao tới nhà trường?
Ở đây chúng ta phải nói là từ quản lý hành chính chuyển sang quản trị phát triển giáo dục.
Quản lý hành chính sẽ nặng về các quy trình, thủ tục, hướng dẫn rất chi tiết để nhà trường, giáo viên, địa phương thực hiện như thế nào.
Quản trị phát triển giáo dục là xây dựng hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy chuẩn, tiêu chuẩn; phân cấp, phân quyền rõ ràng, gắn với trách nhiệm giải trình và quản trị theo mục tiêu, kết quả.
Bộ đang xây dựng hệ thống chỉ số phát triển giáo dục, gồm các chỉ số ở cấp quốc gia, địa phương và giáo dục đại học, làm cơ sở theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện.
Các chỉ số này sẽ được theo dõi, giám sát trên nền tảng số quản trị giáo dục quốc gia, qua đó hỗ trợ quản trị dựa trên dữ liệu và tăng tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.
Như vậy, chúng ta kết hợp quản trị theo mục tiêu, kết quả với quản trị dựa trên dữ liệu và nền tảng số. Các địa phương, nhà trường được chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện và bố trí nguồn lực để đạt mục tiêu, thay vì bị ràng buộc bởi quá nhiều quy trình, thủ tục chi tiết.
Cách tiếp cận này vừa giảm thủ tục hành chính, vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương và cơ sở giáo dục, đồng thời gắn quyền tự chủ với trách nhiệm giải trình. Đó là tinh thần của quản trị phát triển giáo dục.

Cô và trò Trường Tiểu học Đô thị Sài Đồng - Phúc Lợi chào năm học mới. Ảnh: SĐ
- Cùng với đổi mới quản trị, đội ngũ nhà giáo vẫn là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục. Bộ trưởng kỳ vọng những chính sách nào sẽ giúp các thầy cô yên tâm cống hiến trong năm học mới?
Muốn giáo dục tốt phải có đội ngũ nhà giáo tốt. Chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên sư phạm về học phí và chi phí sinh hoạt thời gian qua đã góp phần nâng sức hấp dẫn của ngành sư phạm, cải thiện nguồn tuyển và chất lượng đầu vào.
Đối với đội ngũ nhà giáo, các chính sách về tiền lương, phụ cấp, điều kiện làm việc và các chính sách hỗ trợ khác tiếp tục được hoàn thiện theo hướng vừa thu hút, giữ chân người giỏi, vừa động viên, tôn vinh và tạo điều kiện để nhà giáo yên tâm, tận tâm với nghề, nhất là ở vùng khó khăn.
Cùng với đó, Bộ tiếp tục chỉ đạo các cơ sở đào tạo giáo viên đổi mới chương trình, nâng cao chất lượng đào tạo, gắn với yêu cầu đổi mới giáo dục và những năng lực cần thiết trong bối cảnh mới.
Đối với đội ngũ nhà giáo đang công tác, cần đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, nhất là năng lực ngoại ngữ, năng lực số, năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, hiệu quả và đổi mới phương pháp dạy học.
Mục tiêu cuối cùng là để thầy cô dạy tốt hơn, giảm những công việc hành chính không cần thiết và có nhiều thời gian hơn cho chuyên môn, qua đó nâng cao chất lượng giáo dục và sự phát triển toàn diện của người học.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn. Ảnh: HNM
Giảm áp lực thi cử, trang bị cho thầy và trò năng lực sử dụng AI
- Áp lực thi cử, bệnh thành tích, dạy thêm, học thêm vẫn là những vấn đề xã hội quan tâm. Theo Bộ trưởng, đâu là nút thắt cần tháo gỡ trước tiên để người học thực sự ở vị trí trung tâm?
Đây là những vấn đề tồn tại lâu dài, có nhiều nguyên nhân. Vì vậy, không thể xử lý bằng một giải pháp đơn lẻ mà phải đồng thời mở rộng cơ hội học tập, đổi mới tuyển sinh, kiểm tra, đánh giá, nâng cao chất lượng dạy học và tăng cường kỷ cương.
Trước hết phải nhìn vào nguyên nhân của áp lực thi cử và học thêm, dạy thêm. Khi cơ hội vào học ở các cấp học còn hạn chế, cạnh tranh cao thì áp lực thi cử và nhu cầu học thêm dễ gia tăng.
Vì vậy, một trong những giải pháp căn cơ là bảo đảm đủ trường, đủ lớp, đủ chỗ học phù hợp và đủ giáo viên, đồng thời nâng cao chất lượng giữa các cơ sở giáo dục.
Một tín hiệu rất đáng mừng là những chủ trương của Đảng, Nhà nước đã được triển khai vào thực tiễn. Số học sinh vào lớp 10 năm nay tăng khoảng 24% so với năm 2025-2026. Cùng với việc đó, áp lực cạnh tranh vào những trường THPT, lớp 10 đã giảm hẳn.
Việc triển khai các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới cũng nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục có chất lượng cho học sinh ở những địa bàn còn nhiều khó khăn.
Khi bảo đảm đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên, đủ chỗ học và từng bước đổi mới phương thức tuyển sinh theo hướng thuận lợi, công bằng, phù hợp với điều kiện từng địa phương, áp lực thi cử sẽ giảm.
Khi áp lực thi cử giảm, nhu cầu học thêm do cạnh tranh cũng sẽ từng bước giảm. Đồng thời, phải tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá để việc học hướng tới phát triển năng lực, phẩm chất thay vì chạy theo điểm số.
Bên cạnh đó, phải thực hiện nghiêm các quy định pháp luật, tăng cường kỷ cương và xử lý nghiêm các hành vi gian lận, tiêu cực, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Giữ gìn chất lượng, kỷ cương và sự trung thực trong giáo dục trước hết là trách nhiệm của ngành Giáo dục, đồng thời cần sự phối hợp, đồng hành của gia đình và toàn xã hội.
Quan trọng hơn, ngành Giáo dục phải tự đổi mới từ bên trong, bắt đầu từ từng nhà trường, từng thầy cô và từng học sinh; xây dựng văn hóa học đường an toàn, lành mạnh, trung thực bằng những việc cụ thể trong dạy học, kiểm tra, đánh giá và ứng xử hằng ngày.

Thầy cô hướng dẫn học sinh sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ học tập. Ảnh: NT
- AI đang mở ra những thay đổi lớn trong giáo dục. Nhưng nếu sử dụng không đúng cách, công nghệ cũng có thể ảnh hưởng tới năng lực tư duy của học sinh. Ngành Giáo dục sẽ tiếp cận vấn đề này như thế nào, thưa Bộ trưởng?
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang từng bước hoàn thiện khung năng lực số, nội dung và hướng dẫn về giáo dục trí tuệ nhân tạo, tạo cơ sở để các nhà trường triển khai phù hợp với từng cấp học và điều kiện thực tế.
Điều quan trọng là phát huy sự chủ động, sáng tạo của nhà trường và nhà giáo, đồng thời trang bị cho thầy cô năng lực sử dụng AI an toàn, có trách nhiệm và hiệu quả trong dạy học.
Thực tế cho thấy nhiều nhà trường, thầy cô đã chủ động tự học, chia sẻ kinh nghiệm và ứng dụng AI trong chuẩn bị bài giảng, thiết kế hoạt động học tập, kiểm tra, đánh giá và hỗ trợ công việc chuyên môn.
Trong thời gian tới, việc đưa AI vào giáo dục phải được thực hiện có lộ trình, hiệu quả và có kiểm soát; tận dụng lợi ích của công nghệ nhưng đồng thời nhận diện, hạn chế các rủi ro, tác động tiêu cực.
Quan trọng nhất là hướng dẫn học sinh sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ học tập, không thay thế tư duy, sự tự học và nỗ lực của người học. AI phải giúp các em học tốt hơn, học sâu hơn và phát triển năng lực số an toàn, có trách nhiệm.
- Làm thế nào để học sinh vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới không đứng ngoài công cuộc đổi mới giáo dục, thưa Bộ trưởng?
Bảo đảm công bằng trong giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền, địa phương là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội, trong đó ngành Giáo dục giữ vai trò nòng cốt.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu xây dựng các chương trình, chính sách nhằm tăng nguồn lực đầu tư cho giáo dục, nhất là trường lớp, thiết bị và các điều kiện bảo đảm chất lượng ở vùng khó khăn, qua đó mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho người dân.
Các địa phương cần tiếp tục ưu tiên nguồn lực để kiên cố hóa trường học, bảo đảm đủ trường, đủ lớp, đồng thời chủ động các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa bàn.
Cùng với đầu tư cơ sở vật chất, cần thực hiện đồng bộ các chính sách hỗ trợ người học và nhà giáo, để học sinh ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới có điều kiện đến trường thuận lợi, được học tập trong môi trường an toàn và có chất lượng.
Đây là trách nhiệm chung của các bộ, ngành, địa phương, gia đình và toàn xã hội; không thể chỉ đặt lên vai ngành Giáo dục.
Đối với bài toán thiếu giáo viên ở vùng khó khăn, cần đồng thời thực hiện chính sách tiền lương, phụ cấp, nhà ở và các điều kiện hỗ trợ phù hợp để thu hút, giữ chân nhà giáo.
Bên cạnh đó, cần phát huy cơ chế điều động, luân chuyển, biệt phái giáo viên theo quy định, trên cơ sở nhu cầu thực tế và bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của nhà giáo.
Việc điều động, luân chuyển phải được thực hiện công khai, minh bạch, hợp lý, có thời hạn phù hợp, gắn với chính sách hỗ trợ và điều kiện công tác, không làm xáo trộn không cần thiết đời sống của giáo viên.
Mục tiêu là phân bổ, sử dụng đội ngũ hiệu quả hơn, để những nơi khó khăn vẫn có giáo viên có năng lực, đồng thời tạo điều kiện cho nhà giáo yên tâm công tác và phát triển nghề nghiệp.
Đó là cách tiếp cận đồng bộ để từng bước thu hẹp chênh lệch về điều kiện và chất lượng giáo dục giữa các vùng miền.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn. Ảnh: HNM
Câu chuyện sắp xếp trường lớp và đào tạo nhân tài
- Thưa Bộ trưởng, việc sắp xếp các cơ sở giáo dục đã tạo ra thay đổi về mô hình quản trị. Nhưng với người học và đội ngũ nhà giáo, giá trị lớn nhất của quá trình này là gì?
Việc sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục phải đặt quyền lợi của người học và chất lượng, hiệu quả giáo dục lên hàng đầu; không thực hiện một cách cơ học chỉ để giảm đầu mối.
Sắp xếp hợp lý sẽ giúp sử dụng hiệu quả hơn cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đồng thời tạo điều kiện đổi mới mô hình quản trị, tăng cường ứng dụng công nghệ và nền tảng số.
Đây vừa là yêu cầu của quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, vừa là cơ hội để đổi mới quản trị nhà trường theo hướng hiệu quả, hiện đại và phù hợp hơn với thực tiễn.
Đối với người học, nguyên tắc là bảo đảm việc học tập ổn định, thuận lợi, không để quá trình sắp xếp làm giảm cơ hội tiếp cận giáo dục hoặc phát sinh bất hợp lý về khoảng cách đi lại, điều kiện học tập.
Đồng thời, cần bố trí, sử dụng đội ngũ phù hợp với năng lực và vị trí việc làm; phát huy chuyên môn của giáo viên, cán bộ quản lý, kể cả việc bố trí cán bộ quản lý có chuyên môn phù hợp trở lại trực tiếp giảng dạy khi cần thiết.
Thước đo của việc sắp xếp không phải là giảm được bao nhiêu đầu mối, mà là chất lượng giáo dục được nâng lên, nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn và quyền lợi của người học, nhà giáo được bảo đảm tốt hơn.
Bộ đang tiếp tục hướng dẫn các địa phương hoàn thiện mô hình quản trị đối với các cơ sở giáo dục sau sắp xếp, làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó và các bộ phận, điểm trường; đồng thời bảo đảm quản lý thống nhất về chuyên môn, cơ sở vật chất và tài chính.
Cùng với đó, nền tảng số quản trị giáo dục quốc gia sẽ hỗ trợ các địa phương, cơ sở giáo dục trong quản trị, theo dõi dữ liệu và đánh giá kết quả thực hiện.

Các tân cử nhân Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội trong lễ nhận Bằng tốt nghiệp 2026. Ảnh: HUS
- “Giáo dục tinh hoa” đang được đặt ra như một yêu cầu trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ làm gì để hiện thực hóa định hướng này?
Chúng ta vừa phải phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trên diện rộng để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, vừa phải có cơ chế phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài.
Muốn vậy, cần lựa chọn một số cơ sở giáo dục đại học có tiềm năng để đầu tư tập trung, có trọng điểm, gắn với cơ chế đặc thù, vượt trội; qua đó vừa đào tạo nhân lực trình độ cao, nhân tài, vừa thúc đẩy nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tiếp tục tham mưu các cơ chế, chính sách và chương trình để tập trung nguồn lực cho các cơ sở, lĩnh vực trọng điểm, tránh đầu tư dàn trải, manh mún.
Để hình thành những cơ sở giáo dục đại học thực sự xuất sắc, có năng lực cạnh tranh quốc tế, cần cơ chế đặc thù, vượt trội đi cùng nguồn lực tương xứng và cơ chế quản trị phù hợp.
Bộ được giao tiếp tục nghiên cứu, đề xuất cơ chế và nguồn lực để lựa chọn, đầu tư có trọng điểm cho một số cơ sở giáo dục đại học có tiềm năng, trước hết trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược của đất nước.
Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và sự chung tay của các bộ, ngành, địa phương, gia đình và toàn xã hội. Chủ đề năm học 2026 - 2027 là “Đổi mới tư duy - Chuyển biến mạnh mẽ - Kết quả thực chất”. Tinh thần đó phải được thể hiện bằng những thay đổi cụ thể ở từng nhà trường, từng lớp học và đối với mỗi người học.
- Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!
