Bộ Y tế khẩn trương triển khai Nghị định về Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2035

Nghị định số 387/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hoá - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026–2035.

Chiều 16/10, tại trụ sở Bộ Y tế, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan chủ trì cuộc họp với cán bộ chủ chốt các Cục, Vụ, Văn phòng và đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ để triển khai các nhiệm vụ được giao tại Nghị định số 387/2026/NĐ-CP ngày 12/10/2026 của Chính phủ quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa-xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026–2035.

Tham dự cuộc họp có Thứ trưởng Bộ Y tế Lê Đức Luận, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương cùng lãnh đạo các Cục, Vụ, Văn phòng Bộ, Trung tâm, Viện thuộc và trực thuộc Bộ Y tế.

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp. Ảnh: Trần Minh

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp. Ảnh: Trần Minh

Thống nhất cơ chế quản lý, ưu tiên nguồn lực cho địa bàn khó khăn

Tại cuộc họp, Bộ trưởng Đào Hồng Lan thông tin những điểm nổi bật của Nghị định số 387/2026/NĐ-CP cần được các đơn vị chú trọng trong quá trình triển khai. Nghị định gồm 7 chương, 54 điều, nhằm cụ thể hóa chủ trương đầu tư Chương trình đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026.

Điểm đáng chú ý là các nhiệm vụ phát triển nông thôn, giảm nghèo, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giáo dục, y tế, văn hóa được tổ chức trong một chương trình thống nhất, với cơ chế quản lý, phân bổ nguồn lực và đánh giá kết quả chung.

Theo đó, việc tổ chức thực hiện phải bảo đảm thống nhất, đồng bộ, hiệu quả theo mục tiêu, phạm vi, đối tượng được Quốc hội quyết định. Nghị định nhấn mạnh yêu cầu phân cấp, phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương, đồng thời phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn, gắn với khả năng cân đối nguồn lực và năng lực tổ chức thực hiện.

Việc đầu tư phải có trọng tâm, trọng điểm, tập trung nguồn lực thực hiện các mục tiêu của Chương trình; ưu tiên ở mức cao nhất cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, vùng bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, vùng có nguy cơ thiên tai cao và các địa bàn, lĩnh vực cần ưu tiên theo quy định của cấp có thẩm quyền.

Nghị định cũng yêu cầu việc quản lý, sử dụng nguồn lực phải tuân thủ quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục tiêu, đúng đối tượng hỗ trợ của Chương trình; không trùng lặp, chồng chéo về đối tượng, địa bàn, nội dung với các chương trình, dự án, chính sách khác.

Về huy động nguồn lực, Nghị định quy định đa dạng hóa các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, tín dụng chính sách xã hội, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức, cá nhân và các khoản tài trợ, viện trợ, đóng góp tự nguyện hợp pháp.

Nguồn lực ngân sách nhà nước được bố trí trong kế hoạch tài chính 5 năm và dự toán ngân sách hằng năm; ưu tiên phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và bảo tồn văn hóa. Ngân sách địa phương được bố trí kinh phí phù hợp với khả năng cân đối và nhu cầu thực tế.

Bên cạnh đó, Nghị định khuyến khích huy động vốn tín dụng ưu đãi, thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, liên kết sản xuất, tạo việc làm, chuyển giao công nghệ; vận động các nguồn tài trợ, viện trợ và đóng góp tự nguyện để bổ sung nguồn lực thực hiện Chương trình theo quy định của pháp luật.

Đối với nguồn ngân sách nhà nước, Nghị định quy định nguyên tắc phân bổ ngân sách trung ương, bố trí ngân sách địa phương và sử dụng các nguồn vốn khác để thực hiện Chương trình. Việc phân bổ phải căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ, khả năng cân đối nguồn lực, điều kiện thực tế và kết quả thực hiện.

Cơ chế lồng ghép nguồn lực cũng được quy định cụ thể, trong đó yêu cầu xác định rõ phạm vi công việc, khối lượng, kinh phí và kết quả đầu ra của từng nguồn vốn; tránh bố trí, thanh toán, quyết toán trùng nguồn vốn, kinh phí cho cùng một khoản chi. Việc quản lý, sử dụng kinh phí phải bảo đảm công khai, minh bạch, không thất thoát, lãng phí và tuân thủ quy định của pháp luật.

Thứ trưởng Bộ Y tế Lê Đức Luận phát biểu. Ảnh: Trần Minh

Thứ trưởng Bộ Y tế Lê Đức Luận phát biểu. Ảnh: Trần Minh

Đánh giá kết quả theo mục tiêu, chỉ tiêu và dữ liệu đầu ra

Một nội dung đáng chú ý khác của Nghị định số 387/2026/NĐ-CP là quy định về tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện Chương trình dựa trên hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu, dữ liệu và kết quả đầu ra.

Theo đó, khung tiêu chí đánh giá kết quả đầu ra gồm các nhóm chỉ tiêu về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, bảo tồn và phát triển văn hóa, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.

Kết quả thực hiện Chương trình được theo dõi, đánh giá định kỳ và theo giai đoạn, gắn với trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc cập nhật dữ liệu, xác nhận kết quả, báo cáo và giải trình về tình hình thực hiện.

Cụ thể, giai đoạn 2026–2030 gồm đánh giá giữa kỳ vào năm 2028 và đánh giá kết thúc giai đoạn 5 năm vào năm 2030. Đối với giai đoạn 2031–2035, việc đánh giá giữa kỳ được thực hiện vào năm 2033, đánh giá kết thúc giai đoạn 10 năm vào năm 2035. Việc đánh giá đột xuất được thực hiện theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền.

Nghị định đồng thời quy định cơ sở dữ liệu của Chương trình là hệ thống dữ liệu điện tử thống nhất, dùng chung cho các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương trong quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình.

Về tổ chức thực hiện, Nghị định xác định rõ trách nhiệm của các Bộ, cơ quan trung ương và chính quyền địa phương; đồng thời yêu cầu không thành lập thêm tổ chức quản lý, điều phối riêng theo từng ngành, lĩnh vực, bảo đảm bộ máy quản lý tinh gọn, thống nhất.

Tập trung các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Y tế

Thảo luận tại cuộc họp, các Thứ trưởng và đại biểu đại diện các Cục, Vụ liên quan đề xuất giải pháp nhằm triển khai Nghị định hiệu quả, sát với yêu cầu thực tiễn, tập trung vào các nhiệm vụ được giao cho Bộ Y tế.

Các đại biểu phát biểu. Ảnh: Trần Minh

Các đại biểu phát biểu. Ảnh: Trần Minh

Trong lĩnh vực y tế cơ sở, các nhiệm vụ trọng tâm gồm củng cố, nâng cao năng lực trạm y tế xã, phường, đặc khu; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực y tế; cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, nhất là tại vùng khó khăn, miền núi, biên giới và hải đảo.

Đối với y tế dự phòng và phòng, chống bệnh tật, cần tăng cường năng lực phòng bệnh, phát hiện sớm nguy cơ sức khỏe; nâng cao năng lực giám sát dịch bệnh và xét nghiệm; đẩy mạnh dự phòng, quản lý và điều trị một số bệnh không lây nhiễm tại tuyến cơ sở.

Về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và dinh dưỡng, các nhiệm vụ tập trung vào nâng cao chất lượng chăm sóc thai kỳ, sinh đẻ an toàn và chăm sóc trẻ sơ sinh; tư vấn dinh dưỡng, phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em; chú trọng chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

Trong lĩnh vực dân số và nâng cao chất lượng dân số, cần giải quyết các vấn đề dân số ưu tiên, nâng cao chất lượng dân số và chăm sóc sức khỏe sinh sản, thích ứng với già hóa dân số, tăng cường chăm sóc người cao tuổi.

Theo Nghị định số 387/2026/NĐ-CP, nhiệm vụ quản lý sức khỏe và chuyển đổi số cũng được chú trọng, với các nội dung tăng cường quản lý sức khỏe người dân theo vòng đời, phát triển hồ sơ, sổ sức khỏe điện tử, nâng cao hiệu quả theo dõi, quản lý và cung ứng dịch vụ y tế.

Đối với nhóm yếu thế, các nhiệm vụ hướng tới tăng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người nghèo, người dân ở vùng khó khăn và các nhóm dễ bị tổn thương; kết hợp chăm sóc sức khỏe với các dịch vụ chăm sóc xã hội phù hợp.

Cụ thể hóa nhiệm vụ, rõ trách nhiệm và kết quả đầu ra

Kết luận cuộc họp, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan nhấn mạnh, để triển khai hiệu quả Nghị định số 387/2026/NĐ-CP về cơ chế thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026–2035, Bộ Y tế cần tập trung cụ thể hóa các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực y tế, bảo đảm nguồn lực, phối hợp liên ngành và tổ chức thực hiện đến tận cơ sở, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và địa bàn khó khăn.

Theo Bộ trưởng, các nhiệm vụ phải được xác định theo hướng gắn trách nhiệm của cơ quan chủ trì với kết quả đầu ra, tránh chồng chéo với các chương trình mục tiêu quốc gia và chính sách y tế hiện hành.

Bộ trưởng yêu cầu tất cả các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ căn cứ nhiệm vụ được Bộ Y tế phê duyệt để rà soát tổng thể, xây dựng kế hoạch phân bổ nhiệm vụ và giải pháp triển khai Chương trình.

Vụ Kế hoạch - Tài chính được giao làm đầu mối tiếp nhận, tổng hợp, tập trung vào các nội dung: cụ thể hóa mục tiêu; hoàn thiện hướng dẫn; bố trí nguồn lực; phân công và phối hợp; theo dõi, đánh giá; quản lý dữ liệu; thực hiện chế độ kiểm tra, báo cáo.

Quang cảnh cuộc họp. Ảnh: Trần Minh

Quang cảnh cuộc họp. Ảnh: Trần Minh

Cùng với đó, Bộ trưởng yêu cầu thành lập Ban Chỉ đạo trên cơ sở các đơn vị cử nhân sự tham gia; giao Vụ Tổ chức cán bộ xây dựng quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo và phân công nhiệm vụ cho các thành viên. Đồng thời, thành lập các Tổ công tác, trong đó đầu mối thực hiện là lãnh đạo các đơn vị và một chuyên viên trực tiếp triển khai nhiệm vụ.

Bộ trưởng Đào Hồng Lan nhấn mạnh, trọng tâm của Bộ Y tế là chuyển các mục tiêu về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển thành kế hoạch cụ thể, có chỉ tiêu đo lường, nguồn lực bảo đảm, hướng dẫn thống nhất và cơ chế giám sát rõ ràng.

"Yêu cầu khẩn trương triển khai Nghị định số 387/2026/NĐ-CP, đảm bảo kết quả thực hiện được đo lường, kiểm chứng và duy trì bền vững" - Bộ trưởng Đào Hồng Lan nói.

Thái Bình/ Ảnh: Trần Minh

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/bo-y-te-khan-truong-trien-khai-nghi-dinh-ve-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-giai-doan-20262035-169261017094939992.htm