Bồi dưỡng nhân lực y học cổ truyền: Nâng tầm từ công nghệ
GS.TS Nguyễn Cửu Khoa, bác sĩ Y học cổ truyền, nguyên Viện trưởng Viện Công nghệ Hóa học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã có cuộc trao đổi với Báo GD&TĐ về phát triển nguồn nhân lực bác sĩ y học cổ truyền phục vụ nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực này.

Sinh viên Y khoa, Trường Đại học Công nghệ TPHCM trong giờ thực hành. Ảnh: NTCC
Khoa học, công nghệ giúp nâng tầm y học cổ truyền
Một trong những thành quả nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Cửu Khoa và các cộng sự là phát triển dạng nano fucoidan vào thuốc hướng đích nhằm hỗ trợ điều trị một số bệnh ung thư, đồng thời nano hóa các bài thuốc y học cổ truyền nhằm tăng hiệu quả điều trị. Nghiên cứu được thực hiện trên chuột trong giai đoạn thực hành lâm sàng và bước đầu cho thấy hiệu quả khi kích thước khối u trên chuột giảm sau thời gian thử nghiệm. Thời gian tới, nhóm nghiên cứu tiếp tục phát triển công nghệ hướng đích chủ động hơn, nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ điều trị ung thư.
- Ông đánh giá như thế nào về tư duy, tầm nhìn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với phát triển y học cổ truyền trong thời gian tới?
- Định hướng này mở ra một sân chơi rất rộng lớn cho lĩnh vực y học cổ truyền. Y học hiện đại trên thế giới đã phát triển mạnh, đặc biệt tại các nước phương Tây. Trong khi đó, y học cổ truyền vốn là thế mạnh của Việt Nam nhưng nếu không ứng dụng khoa học, công nghệ thì hiệu quả sử dụng đối với người bệnh cũng như các minh chứng học thuật sẽ chưa cao, cả trong giới chuyên môn lẫn người sử dụng.
Chủ trương tích cực đưa khoa học, công nghệ vào y học cổ truyền sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền y học cổ truyền quốc gia. Với tôi, ở góc độ một nhà khoa học có nhiều năm nghiên cứu về thuốc, trong đó gần 10 năm nghiên cứu thuốc y học cổ truyền, đây là chủ trương, chính sách mang lại lợi thế lớn cho những người làm trong ngành.
Điều này thể hiện rõ trên nhiều góc độ. Trước đây, giới khoa học đã có nhiều nghiên cứu về cây cỏ thiên nhiên, dược liệu, tách chiết các hoạt chất và xác định những cấu trúc mới. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu gặp không ít khó khăn khi triển khai các bước tiếp theo do thiếu sự gắn kết giữa nhà hóa học, nhà dược học và bác sĩ y học cổ truyền, cùng với sự khuyến khích của Nhà nước và đồng hành của doanh nghiệp.
Với chủ trương mới, tôi cho rằng đây là một làn gió mới, tạo động lực để các nhà khoa học đầu tư nghiên cứu bài bản hơn.
- Y học cổ truyền của dân tộc được xem là tinh hoa do các thế hệ thầy thuốc lưu giữ hàng nghìn năm. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ cần thực hiện thế nào để vừa bảo tồn tinh hoa này, vừa tạo ra những giá trị vượt trội từ công nghệ?
- Ứng dụng khoa học, công nghệ có thể nâng cao hiệu quả điều trị của các bài thuốc được chiết xuất từ cây cỏ thiên nhiên, dưới dạng thuốc thang, thuốc viên hoàn. Khi áp dụng công nghệ, quá trình chiết tách dược chất diễn ra nhanh hơn, hiệu quả hơn, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả điều trị.
Khi người thầy thuốc xác định được bài thuốc tập trung điều trị bệnh gì, các nhà khoa học có thể phát triển phương pháp chiết tách tập trung vào nhóm hoạt chất có tác dụng đối với bệnh đó. Điều này giúp nâng cao chất lượng bài thuốc, tăng hiệu quả điều trị. Khi bài thuốc được sản xuất ở quy mô lớn, giá thành sản phẩm cũng có thể giảm, tạo điều kiện để tiếp cận thị trường tốt hơn.
Khoa học, công nghệ hiện nay đã phát triển nhiều phương pháp mới như sóng vi ba, sóng siêu âm, CO2 siêu tới hạn... giúp tách chiết được nhiều hoạt chất hơn trong thời gian ngắn, đồng thời giữ được các hoạt chất ở trạng thái nguyên bản.
Thông thường, bài thuốc cổ truyền sử dụng dung môi là nước nên khả năng hấp thu hoạt chất vào cơ thể, hay còn gọi là sinh khả dụng, không cao. Điều này khiến hiệu quả điều trị có thể chậm hơn so với thuốc Tây y. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ nano có thể làm tăng sinh khả dụng, qua đó nâng cao hiệu quả điều trị, giúp thuốc y học cổ truyền tiệm cận hiệu quả của thuốc Tây y nhưng ít tác dụng phụ hơn.

GS.TS Nguyễn Cửu Khoa. Ảnh: Hà An
Bồi dưỡng nhân lực, chuẩn hóa y học cổ truyền
- Để đưa các nghiên cứu ứng dụng công nghệ vào thực tế, việc phát triển đội ngũ bác sĩ y học cổ truyền cần có những chính sách, đầu tư như thế nào để xây dựng lực lượng chuyên gia giàu kinh nghiệm, giỏi chuyên môn?
- Tại Việt Nam, bác sĩ y học cổ truyền có đặc thù học 4 năm kiến thức cơ sở của bác sĩ, sau đó học thêm 2 năm chuyên sâu về y học cổ truyền. Do đó, đội ngũ này có nền tảng y khoa hiện đại khá vững vàng, sau đó được bổ sung kiến thức về y học cổ truyền.
Chủ trương đào tạo bác sĩ y học cổ truyền là hướng đi đúng đắn, phù hợp để tạo ra thế hệ bác sĩ có khả năng điều trị theo hướng kết hợp Đông - Tây y, đặc biệt đối với các bệnh mạn tính. Những năm gần đây, việc xã hội hóa đào tạo bác sĩ cũng là điểm đáng chú ý, với sự tham gia của nhiều trường đại học ngoài công lập. Chất lượng đội ngũ sau khi tốt nghiệp sẽ tiếp tục được kiểm soát thông qua kỳ thi đánh giá năng lực chuyên môn để cấp giấy phép hành nghề khám, chữa bệnh.
Tuy vậy, lực lượng bác sĩ y học cổ truyền trong nước hiện còn khá mỏng. Đặc biệt, quy mô khoa y học cổ truyền tại nhiều cơ sở y tế tuyến dưới chưa đủ để trở thành bộ phận chủ chốt của bệnh viện. Các khoa này chủ yếu thực hiện một số chuyên môn cơ bản như xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu, cấp phát thuốc theo danh mục bảo hiểm y tế..., trong khi lực lượng bác sĩ chưa thực sự mạnh về chuyên môn.
Để phát triển đội ngũ bác sĩ y học cổ truyền, Nhà nước cần có chủ trương, chính sách về đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng này. Bác sĩ y học hiện đại được đào tạo theo tư duy của các môn khoa học cơ bản. Trong khi đó, y học cổ truyền có hệ thống ngôn ngữ chuyên môn riêng, đòi hỏi tư duy và khả năng suy luận nhiều hơn về các luận chứng, biện trị.
Mỗi thầy thuốc có thể dựa trên kiến thức, kinh nghiệm của mình để đưa ra bài thuốc, phương pháp châm cứu, điều trị khác nhau; trong khi các chuẩn mực cụ thể chưa được thống nhất đầy đủ. Sự khác biệt trong điều trị cũng xuất phát từ việc mỗi người bệnh có thể bệnh và giai đoạn bệnh khác nhau.
Do đó, cần phát huy vai trò của các chuyên gia đầu ngành, các hiệp hội, nhóm chuyên môn để từng bước nâng cao kiến thức cho bác sĩ y học cổ truyền. Những người có chuyên môn sâu có thể tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn cho đội ngũ bác sĩ trẻ. Bệnh viện cũng có thể bố trí thời gian để bác sĩ y học cổ truyền vừa làm việc, vừa tham gia các khóa đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn. Người hoạt động trong ngành y nói chung và y học cổ truyền nói riêng phải gắn quá trình công tác với việc tích lũy kiến thức lâu dài, qua đó không ngừng nâng cao năng lực nghề nghiệp.
Bên cạnh phát triển nhân lực, Nhà nước cần xây dựng các vùng trồng dược liệu. Người dân tại các vùng trồng dược liệu cần có thu nhập và việc làm ổn định. Khi các vùng trồng được phát triển, bác sĩ sẽ có nguồn dược liệu phong phú, đúng tiêu chuẩn để phục vụ nghiên cứu, phát triển những bài thuốc có giá trị, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.

Sinh viên ngành Y khoa, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Ảnh: NTCC
- Để y học cổ truyền Việt Nam phát triển trong thời gian tới, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách gì để nâng cao chất lượng và khả năng phục vụ người dân?
- Thực tế hiện nay, đầu tư nghiên cứu một loại thuốc, bài thuốc là quá trình rất dài, tiêu tốn chi phí lớn. Phát triển một loại thuốc có thể tốn hàng chục tỷ đồng nhưng chưa thể biết kết quả cuối cùng có đạt được mục tiêu ban đầu hay không. Đây là bài toán nan giải đối với các nhà khoa học và doanh nghiệp dược.
Do đó, tôi cho rằng Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ, khuyến khích theo hướng thành lập các quỹ, chương trình tài trợ từ 30 - 50% chi phí nghiên cứu thuốc; phần còn lại do doanh nghiệp tham gia đầu tư. Khi nghiên cứu được thương mại hóa thành công, doanh nghiệp sẽ đóng thuế trở lại cho Nhà nước. Việc Nhà nước cùng tham gia bỏ vốn sẽ tạo thêm động lực để doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu.
Nhìn rộng hơn, trong cơ chế hợp tác giữa Nhà nước, viện, trường, doanh nghiệp và địa phương, vai trò của Nhà nước rất quan trọng trong việc xây dựng chủ trương, chính sách, làm rõ vai trò và trách nhiệm của các bên. Khi sự phối hợp này được tổ chức mạch lạc, các nghiên cứu từ viện, trường, với sự đồng hành của Nhà nước và doanh nghiệp, sẽ có điều kiện tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, nâng cao hiệu quả điều trị cho người dân. Đồng thời, đời sống của người dân tại các vùng trồng dược liệu cũng được cải thiện.
Trong kế hoạch phát triển y dược học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại giai đoạn 2025 - 2030 do UBND TPHCM ban hành tháng 3/2026, thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 có 95% bệnh viện đa khoa có Khoa Y học cổ truyền; 100% trạm y tế triển khai tư vấn hoặc khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền. Tỷ lệ khám, chữa bệnh kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại đạt khoảng 25% ở tuyến tỉnh và 40% ở tuyến xã.
Về phát triển đội ngũ, TPHCM chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số, phát triển du lịch y tế gắn với y học cổ truyền và tăng cường hợp tác quốc tế. Việc triển khai có sự phối hợp của nhiều sở, ngành, trong đó Sở Y tế là cơ quan thường trực, nhằm phát huy giá trị y dược cổ truyền trong hệ thống chăm sóc sức khỏe của thành phố.

