Bom đạn lấy đi đôi mắt, không thể dập tắt khát vọng gieo chữ của người thương binh
Bom đạn chiến tranh cướp đi đôi mắt của người lính Nguyễn Đăng Khoa khi ông mới ngoài 20 tuổi, nhưng không thể lấy đi tri thức, nghị lực và khát vọng cống hiến. 58 năm sống trong bóng tối, ông vẫn miệt mài gieo chữ, truyền cảm hứng và trở thành người thầy đặc biệt của hàng trăm học trò.
Video: Bom đạn lấy đi đôi mắt, không thể dập tắt khát vọng gieo chữ của người thương binh Nguyễn Đăng Khoa.
Mất ánh sáng của đôi mắt, không mất ánh sáng của niềm tin
Buổi sáng bình yên ở xã Đại Huệ (Nghệ An), căn nhà nhỏ của ông Nguyễn Đăng Khoa (SN 1942, thương binh 1/4) lặng lẽ hơn trước. Chiếc bảng đen cũ vẫn dựa nơi góc nhà. Những bộ bàn ghế gỗ đã bạc màu thời gian vẫn được giữ gìn cẩn thận như chưa từng rời khỏi những buổi học đông vui. Chỉ có tiếng ê a của học trò là đã vắng.
Các con nhiều lần khuyên ông nghỉ dạy vì tuổi cao, sức khỏe giảm sút. Ông hiểu nỗi lo ấy, nhưng mỗi khi nhìn về góc lớp học cũ, ký ức lại ùa về. “Tôi nhớ lớp học lắm. Chỉ cần còn minh mẫn, còn sức khỏe, tôi vẫn muốn truyền đạt những điều mình biết cho các cháu”, người thầy già chậm rãi nói.
Đã gần 60 năm kể từ ngày đôi mắt ông chìm vào bóng tối. Nhưng điều kỳ lạ là người đối diện vẫn cảm nhận được một nguồn sáng rất khác trong con người ông – ánh sáng của trí tuệ, nghị lực và niềm tin chưa bao giờ tắt.

Thương binh Nguyễn Đăng Khoa gần 60 năm mất đi ánh sáng.
Năm 1964, khi mới 22 tuổi, Nguyễn Đăng Khoa là học sinh năm cuối Trường cấp III Nam Đàn. Ông học giỏi Toán và luôn ấp ủ ước mơ trở thành giáo viên. Thế nhưng khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, chàng trai trẻ gác lại giấc mơ đứng trên bục giảng để khoác ba lô lên đường nhập ngũ. “Tôi nghĩ lúc ấy đất nước cần thì thanh niên phải có trách nhiệm. Ước mơ riêng có thể chờ, còn Tổ quốc thì không thể”, ông nhớ lại.
Sau thời gian huấn luyện, ông được bổ sung vào Đoàn 559 làm nhiệm vụ mở đường và vận chuyển hàng chi viện cho chiến trường miền Nam. Tháng 9/1967, trong lúc đơn vị đang làm cầu trên tuyến vận tải ở Tây Nguyên, máy bay địch bất ngờ trút bom. “Tôi chỉ kịp nghe một tiếng nổ rất lớn rồi không còn biết gì nữa”, người thương binh nhớ lại.

Sau khi mất thị lực, ông Khoa kiên trì học và sử dụng chữ nổi Braille để tiếp tục học tập, làm việc và cống hiến.
Khi tỉnh dậy trong quân y viện, ông vẫn nuôi hy vọng có thể nhìn thấy ánh sáng. Nhưng đến ngày tháo băng, trước mắt chỉ còn một quầng sáng vàng nhạt rồi vụt tắt. “Đó là lần cuối cùng tôi còn nhìn thấy ánh sáng”, ông lặng người nhớ lại. Trận bom năm ấy đã cướp đi đôi mắt của người lính trẻ.
Ngày trở về quê hương, người lính Nguyễn Đăng Khoa mang trên mình thương tật cùng nỗi mặc cảm của một người mù. Nhưng cũng chính trong quãng thời gian khó khăn ấy, ông gặp bà Trần Thị Sâm, khi ấy là Phó Bí thư Đoàn xã Nam Lĩnh, nhận chăm sóc ông. Từ sự cảm thông, sẻ chia, họ nên duyên vợ chồng. “Vợ là đôi mắt của tôi. Nếu không có bà ấy, chắc tôi khó có thể đi được chặng đường dài như hôm nay”, ông Khoa xúc động.
Không chấp nhận sống dựa dẫm, năm 1973, ông xin địa phương một chiếc radio để nghe thời sự, học hỏi kiến thức mới. Ban ngày ông nghe đài, ghi nhớ từng thông tin. Ban đêm, ông kiên trì học chữ nổi Braille. “Tôi nghĩ mình mất đi đôi mắt thì càng phải học nhiều hơn. Nếu không tiếp nhận tri thức thì sẽ bị bỏ lại phía sau”, người lính chia sẻ.

Những dòng chữ nổi Braille đã mở ra "ánh sáng" tri thức cho người thương binh
Từ người thương binh sống trong bóng tối, ông trở thành tuyên truyền viên của địa phương, biên tập tin bài phát trên hệ thống loa truyền thanh, đưa thông tin về sản xuất, đời sống và thời sự đến với bà con trong xã.
Thắp sáng những ước mơ bằng trái tim của người thầy
Giấc mơ làm thầy giáo tưởng đã khép lại bỗng được mở ra theo một cách rất giản dị. Một buổi chiều sang nhà hàng xóm uống nước chè, ông nghe hai học sinh loay hoay với bài toán hình học. “Tôi nhặt một hòn than, vẽ hình xuống sân rồi hướng dẫn các cháu”, ông kể.
Lời giải chính xác của người thương binh mù khiến lũ trẻ sửng sốt. Từ hôm ấy, học sinh trong làng bắt đầu tìm đến nhờ ông giảng bài. Ban đầu chỉ vài em, rồi ngày một đông hơn. Nhận ra niềm hạnh phúc lớn nhất của mình là được truyền đạt kiến thức, ông quyết định mở lớp học miễn phí ngay tại nhà. Lớp học đầu tiên có 16 học sinh, đó là vào mùa hè năm 2003. Lớp học được mở vào đầu hè và kết thúc khi các em bước vào năm học mới.

Bức ảnh lưu lại lớp học miễn phí của thương binh Nguyễn Đăng Khoa.
Chiều nào căn nhà nhỏ cũng rộn rã tiếng học trò. Không nhìn thấy bảng, ông chọn những học sinh khá làm “trợ giảng”, đọc đề, vẽ hình và ghi công thức. Còn ông, bằng trí nhớ và khả năng tư duy, vẫn lần lượt dẫn dắt học trò tìm ra lời giải. “Tôi không nhìn thấy hình, nhưng trong đầu vẫn hình dung được từng góc, từng cạnh”, ông chia sẻ.
Những năm qua, người thương binh đã mở 11 lớp học miễn phí, giúp hàng trăm học sinh, chủ yếu là học sinh THCS, củng cố kiến thức và tự tin hơn trên con đường học tập. Không chỉ dạy Toán, ông còn kể cho học trò nghe về lịch sử quê hương, truyền cho các em tình yêu đất nước, lòng biết ơn và ý chí vượt khó. Điều ông hạnh phúc nhất không phải là những bằng khen hay giấy chứng nhận. “Mỗi lần thấy học trò tiến bộ, thi đỗ, tôi vui như chính con cháu mình thành công”, ông nói.

Dù không còn ánh sáng đôi mắt, ông Khoa vẫn say sưa chơi đàn.
Có lẽ khoảnh khắc xúc động nhất trong cuộc đời thương binh Nguyễn Đăng Khoa là khi được Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Bộ Giáo dục và Đào tạo trao tặng Thẻ Nhà giáo vào tháng 9/2007. “Ngày nhận danh hiệu ấy, tôi đã khóc. Tôi từng nghĩ chiến tranh đã cướp mất giấc mơ làm thầy. Không ngờ đến năm 65 tuổi, tôi lại được gọi là thầy giáo”, người lính Nguyễn Đăng Khoa xúc động.
Ngoài bục giảng đặc biệt ấy, ông còn là “nghệ sĩ” quen thuộc của quê hương. Không thể lao động nặng, ông tham gia đội văn nghệ xã, tự học đàn mandolin, harmonica và nhiều nhạc cụ khác. Có những buổi biểu diễn, ông vừa thổi harmonica, vừa chơi đàn, vừa dùng chân đánh bộ gõ, khiến khán giả khâm phục bởi sự khéo léo và niềm say mê.

Tiếng đàn của người thương binh mù hòa cùng đồng đội, gợi nhớ những năm tháng hào hùng và nghĩa tình người lính.
Hơn ba thập kỷ gắn bó với Liên hoan Tiếng hát Làng Sen, ông luôn coi việc được hát về Bác Hồ là niềm hạnh phúc lớn của cuộc đời. “Mình là người con quê Bác, được đàn và hát những bài ca dâng Người là niềm hạnh phúc lớn”, ông bày tỏ.
Trong căn nhà nhỏ hôm nay, những tấm huân chương, bằng khen vẫn được cất giữ cẩn thận. Nhưng khi được hỏi điều khiến mình tự hào nhất, ông không nhắc đến danh hiệu hay phần thưởng mà chỉ mỉm cười và tự hào nói về các học trò của mình.

Ông Khoa chăm sóc vườn rau trước sân nhà.
58 năm qua, người thương binh Nguyễn Đăng Khoa đã biến bóng tối thành động lực, biến mất mát thành sức mạnh và biến giấc mơ làm thầy của tuổi trẻ thành một hành trình đẹp đẽ hơn bao giờ hết. Ánh sáng mà ông mang đến hôm nay không đến từ đôi mắt mà đến từ trí tuệ, trái tim và một niềm tin bền bỉ.











