Bồng ông Phúc vào nhà...

Hạnh phúc, giàu có là khát vọng cháy bỏng và vĩnh cửu của nhân loại. Không chỉ là để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống, hạnh phúc, giàu có còn là môi trường để con người phát triển nhân tính toàn diện, tốt đẹp. Song song với quá trình vươn tới hạnh phúc là quá trình con người đấu tranh gạt bỏ cái nghèo nàn, bất hạnh.

Cụ Nguyễn Công Trứ đã khái quát điều ấy trong câu đối hóm hỉnh nhưng thật ý nghĩa: “Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa/ Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà”. Phải “đạp thằng Bần ra cửa”, cho ngôi nhà mới mẻ, sáng sủa để “bồng ông Phúc vào”. Điều ấy được thể hiện trong văn hóa, văn học xưa thế nào?

Mâm ngũ quả.

Mâm ngũ quả.

Trước hết, người Việt rất quý và đề cao giá trị của Phúc. Các bậc cha mẹ thường dạy con trẻ ý nghĩa chữ “Phúc” theo lối chiết tự: bên trái có bộ “thị” nghĩa là mong muốn (thị hiếu); bên phải có bộ “miên” nghĩa là mái nhà và bộ “khẩu” nghĩa là miệng ăn (hộ khẩu); dưới là bộ “điền” nghĩa là ruộng đất. Người xưa đã gửi vào hình thức con chữ khát vọng, ước mơ giản dị về một cuộc sống bình yên, có một mái nhà để trú (nơi ở), có mảnh ruộng để cày cấy (nghề nghiệp).

Người dân hay dùng các thành ngữ Hán Việt trang trọng trong các diễn ngôn chúc Tết: “Hạnh phúc vô cương” (hạnh phúc mãi mãi, vĩnh cửu), “Phúc thọ song toàn” (song hành cả phúc lành lẫn trường thọ). Theo thời gian, quan niệm về “ngũ phúc” truyền thống Việt được dần hoàn chỉnh, cụ thể, mang sắc thái riêng so với Trung Hoa, là “Phú” (giàu có), “Quý” (sang trọng), “Thọ” (sống lâu), “Khang” (khỏe mạnh), “Ninh” (yên ổn).

Đáng chú ý, người Việt hay dùng song trùng hai chữ “Phúc Đức”, được hiểu là điều hay, điều tốt, nhờ việc làm nhân đức mà có. Trong thành ngữ “Phúc đức tại mẫu” có nghĩa “phúc đức” là nhờ người mẹ. “Phúc thiện” được hiểu “phúc” do “thiện” (tốt) mà ra. Tết đến, xuân về, có những câu đối thật ý nghĩa, tràn đầy kỳ vọng: “Phúc đầy nhà, năm thêm giàu có/ Đức ngập tràn, ngày một vinh hoa”; “Mùa xuân hoa nở khắp quê hương/ Phúc đức an khang đến mọi nhà”...

Trong diễn ngôn cảm thán người Việt có những cụm từ “Làm ơn, làm phúc...”, phải được hiểu đầy đủ là làm điều “thiện” (tức điều có đức) để được “phúc”. Câu “Có phúc có phần” tức có phúc (đức) ắt có của nả giàu có (phần), vừa là đạo lý, vừa là chân lý, cũng là nguyên lý cuộc sống. Có một quan niệm biện chứng về sự phát triển giữa các thế hệ: “Con hơn cha nhà có phúc”. Ngắn gọn về chữ nhưng rộng dài, sâu sắc về ý nghĩa giáo dục.

Nguyễn Trãi có câu thơ mang tính chân lý rất đáng để học tập, suy ngẫm: “Phúc nhiều sơ bởi nơi ta tích/ Xuân đến tự nhiên mọi vật tươi” (“Bảo kính cảnh giới” bài 11). “Sơ” là trước hết. Mùa xuân đến thì mọi vật tươi tốt, cũng như quy luật tự nhiên vậy, muốn có phúc, trước hết phải biết “tích phúc”. Như cây cỏ âm thầm “tích phúc” ở mùa đông, để mùa xuân đến, ra hoa kết trái thành tựu... Cụ Nguyễn Trãi rất hiện đại, rất lớn, chỉ từ nhưng câu thơ, những hình tượng nhỏ như vậy!

Ngày Tết, nhà nào cũng có mâm ngũ quả mang ý nghĩa tượng trưng cho 5 yếu tố ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) tương ứng với mong muốn “Ngũ phúc lâm môn” (Năm phúc vào cửa). Tức thành kính dâng năm phúc (Phú, Quý, Thọ, Khang, Ninh) lên tổ tiên, cũng là dâng lên thành quả lao động, dâng lên khát vọng để được Tổ tiên phù hộ, độ trì.

Người Việt có cả một hệ thống thành ngữ khuyên răn con người ta cố gắng thoát ra cảnh nghèo khổ. Bởi trong cảnh “bần cùng”, con người dễ sa vào trạng thái thiếu nhân tính. “Bần cùng sinh đạo tặc”, tức nghèo khổ cùng quẫn dễ biến thành kẻ trộm cướp. Thành ngữ thuần Việt có câu cùng nghĩa: “Đói ăn vụng, túng làm liều”.

Chẳng ai thích nghèo khổ, đói rách. Nhưng chẳng may, do nhiều nguyên nhân mà còn nghèo, nên có những câu khuyên con người hướng về hy vọng: “Chẳng ai khó ba đời”; “Hết khổ là vui”... Dù trong hoàn cảnh nào, con người vẫn phải: “Đói cho sạch rách cho thơm”, “Giấy rách phải giữ lấy lề”.

Hướng con người về phía hạnh phúc, thành đạt, người Việt lại có cả một hệ thống thành ngữ, tục ngữ khuyên phải chăm chỉ lao động, tiết kiệm của cải, thời gian: “Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa/ Sang đâu đến ke ãsay sưa tối ngày”. Phải “Một nắng hai sương”, phải “Thức khuya dậy sớm”, phải cần cù, hết mình “Dầm mưa dãi nắng”, phải biết tích lũy từ cái nhỏ “Năng nhặt chặt bị”, “Tích tiểu thành đại”…

Đồng thời phải tránh xa những hành vi, công việc dễ sinh ra cái nghèo, nhất là tránh xa nạn cờ bạc: “Cờ bạc là bác thằng bần/ Áo quần bán hết ngồi trần tô hô”; “Cờ bạc là bác thằng bần/ Cửa nhà bán hết ra thân ăn mày”; “Cờ bạc là bác thằng bần/ Cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm”… Người Việt chịu thương chịu khó, thành thực, chắt chiu nên rất ghét thói cờ bạc.

Đặc biệt, trong thần thoại, cổ tích, có biết bao những tấm gương vươn lên vượt khỏi cảnh nghèo đói bần cùng để sống trong vương quốc hạnh phúc. Để sau này trở thành hoàng hậu, cô Tấm phải thật chăm chỉ. Chịu thân phận “dì ghẻ con chồng”, Tấm suốt ngày phải lam lũ, ra đồng mò cua bắt ốc. Cám nói với Tấm: “Chị ơi đầu chị lấm cứt trâu. Chị gội đi, kẻo về mẹ mắng”. Tấm tưởng thật, xuống sông gội…”. Chi tiết ấy cho thấy Tấm thực sự đã “bán mặt cho đất, bán lưng cho giời”.

Mẹ con Cám đi hội, bắt Tấm ở nhà nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo… Tấm cũng nhẫn nhục chịu đựng. Khi làm hoàng hậu, Tấm vẫn là người lao động. Ngày giỗ bố, Tấm tự trèo cau hái quả cúng cha. Là vợ vua, Tấm vẫn giặt áo cho chồng. Thế nên, khi chết hóa thành chim vàng anh, vẫn nhắc Cám “phơi áo bằng sào, chớ phơi bờ rào…”.

Để sau này trở thành phò mã, Thạch Sanh tối ngày phải đi hái củi nuôi thân… Ngoài sự chăm chỉ, cô Tấm và chàng Thạch Sanh còn phải là người thật thà, hiền lành, phúc hậu… Đấy cũng là triết lý của người Việt: muốn đổi đời, phải lương thiện và có khát vọng…

Tranh minh họa Chử Đồng Tử - Tiên Dung.

Tranh minh họa Chử Đồng Tử - Tiên Dung.

Cùng một hệ hình biểu tượng như Tấm và Thạch Sanh, trong văn học dân gian có hình tượng anh học trò nghèo nhưng rất mực cần cù đèn sách để “chiếm bảng vàng”. Cậu học trò nọ, bố mẹ mất sớm, rất chăm học. Đến bữa, anh sang nhà hàng xóm mượn nồi về nấu cơm. Biết cậu học trò mượn nồi để vét tý hơi hồ lấy sức học, chủ nhà để thêm một ít cơm nguội… Trò ấy thi đỗ Trạng nguyên. Thế là không chỉ trò kia đỗ, còn là cả tình người, là sự chăm chỉ vượt khó cũng “đoạt khôi nguyên”.

Lại có trường hợp, ngoài cố gắng của bản thân, để vươn lên đỉnh cao hạnh phúc, là nhờ sự giúp đỡ vô tư của bạn bè. Có câu chuyện Dương Lễ sai vợ Châu Long đi nuôi bạn Lưu Bình ăn học. Chưa vượt qua được quan niệm “nam quyền” khắc kỷ, nhưng vở chèo “Lưu Bình - Dương Lễ” đi vào văn hóa Việt tỏa sáng niềm tin về lòng vị tha, về tình bạn cao quý, coi bạn như chính bản thân mình.

Truyện “Chử Đồng Tử” lại nói về khát vọng vươn lên hạnh phúc bằng chữ Hiếu. Chuyện rằng nhà nghèo quá, lại mới gặp tai họa (cháy nhà) nên hai cha con (Chử Cù Vân và Chử Đồng Tử) phải mặc chung nhau một cái khố. Trước khi chết người cha dặn con cứ táng trần cho bố, còn giữ lại cái khố để con mặc.

Chử Đồng Tử không nỡ vậy. Không chỉ là chữ Hiếu, câu chuyện còn là phong tục tang ma ngày xưa theo quan niệm “trần sao âm vậy” và “nghĩa tử là nghĩa tận”, dành cho người đi xa mãi mãi những điều kính trọng, mến thương. Đồng Tử mong cha xuống âm phủ còn có cái khố che thân…

Không chỉ tròn chữ Hiếu, Đồng Tử còn tròn với phong tục, tập quán. Thế là Đồng Tử tròn trách nhiệm người con, cũng tròn cả trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ một công dân. Là bài ca ca ngợi tình yêu tự do, đi vào lịch sử văn hóa Việt, câu chuyện là một mối tình đẹp nhất, chung thủy, bình đẳng và cực kỳ dân chủ.

Là chàng trai nghèo nhất, nghèo đến mức không thể nghèo hơn, thế mà được Tiên Dung công chúa, con gái vua Hùng cành vàng lá ngọc, cao sang, quý phái, vương giả chấp nhận lấy làm chồng. Lý do đầu tiên là nhờ Đồng Tử trọn chữ Hiếu với cha. Thứ nữa, xét về Tiên Dung, nàng đã vượt qua tất cả, bao tín điều, bao thành kiến và định kiến là lấy chồng “hoang” (Đồng Tử đích thực là kẻ “hoang”, tứ cố vô thân, không nghề nghiệp, không quần không áo, lại sống chui rúc ở bãi lau bờ sậy…). Không có một sức mạnh nhân văn cao cả, một tình thương ấm áp những con người dưới đáy, không thể sáng tạo ra được những hình tượng đầy nghịch cảnh mà tuyệt vời trong sáng như vậy.

Những câu chuyện ấy đi vào mỹ học đời sống Việt để khẳng định: bất cứ ai cũng có thể hạnh phúc, miễn là cần cù, chăm chỉ, biết “tích phúc”, và biết nuôi dưỡng ước mơ, khát vọng!

Nguyễn Thanh Tú

Nguồn VNCA: https://vnca.cand.com.vn/doi-song-van-hoa/bong-ong-phuc-vao-nha--i796407/