Bước chuyển trong kinh tế tuần hoàn
Những năm gần đây, chi phí kinh tế do tác động của biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường tại Việt Nam đã trở nên cụ thể và ngày càng lớn. Trong bối cảnh đó, kinh tế tuần hoàn được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược chuyển đổi xanh với nhiều vấn đề cần phải giải quyết cùng lúc.

Mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên tuyến tính đã chạm ngưỡng chịu đựng
Mở lối tái thiết tài nguyên
Theo đánh giá của Germanwatch, Việt Nam thuộc nhóm 15 quốc gia chịu rủi ro khí hậu cao nhất toàn cầu trong giai đoạn 2000-2019. Riêng năm 2025, thiên tai gây thiệt hại khoảng 100.000 tỷ đồng, tác động trực tiếp tới nông nghiệp, giao thông vận tải, đô thị và khu công nghiệp.
Các ước tính cho thấy, nếu không có các giải pháp thích ứng và chuyển đổi đủ mạnh, sản lượng quốc gia của Việt Nam có thể giảm 9,1% vào năm 2030 và 12,5% vào năm 2050 so với kịch bản cơ sở. Trong giai đoạn 2025–2050, tăng trưởng GDP thực có nguy cơ giảm trung bình 0,33 điểm phần trăm mỗi năm, tạo sức ép lớn lên mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Những con số này phản ánh một thực tế rõ ràng: mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên tuyến tính đã chạm ngưỡng chịu đựng.
Trong bối cảnh chi phí môi trường ngày càng lớn, kinh tế tuần hoàn được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược chuyển đổi xanh. Không chỉ dừng ở tái chế, kinh tế tuần hoàn hướng tới tối ưu hóa toàn bộ vòng đời tài nguyên: từ thiết kế sản phẩm, khai thác nguyên liệu, sản xuất, tiêu dùng đến thu hồi, tái sử dụng và tái tạo giá trị. Chia sẻ kinh nghiệm từ thực tiễn, ông Vũ Trường Sinh, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Xây dựng Procons – đơn vị Nhà máy nước sạch Sông Hồng cho biết, công trình này được hình thành trên nền tảng cấu trúc xanh và tư duy kinh tế tuần hoàn. Từ tư duy đó, nhà máy lựa chọn giảm vật liệu hoàn thiện, không trát, không sơn, thay bằng phủ xanh bằng cây để giảm hấp thụ nhiệt. Trong sản xuất, lấy nước từ sông Hồng đồng nghĩa với lượng bùn cặn, phù sa lớn. Thay vì coi đó là chất thải, nhà máy tiếp cận theo tư duy kinh tế tuần hoàn: biến phụ phẩm thành tài nguyên. Một hồ lắng được đầu tư để giữ lại bùn cặn, ổn định chất lượng nước đầu vào. Phần phù sa được tận dụng cho trồng trọt, thay vì thải bỏ ra môi trường. Nhờ giảm cặn ngay từ đầu vào, hiệu quả xử lý nước tăng lên, kéo theo việc giảm chi phí điện, hóa chất và xử lý bùn thải. Trong hai năm vận hành, lượng bùn thải phát sinh rất nhỏ so với các mô hình thông thường.
Đặc biệt với triết lí kinh doanh, làm bất cứ điều gì cũng phải nghĩ đến thế hệ tương lai, ông Ngô Minh Hải, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn TH cho biết, không có ngành nào ứng dụng kinh tế tuần hoàn tốt hơn nông nghiệp. Đây là ngành có khả năng tái tạo tự nhiên, khép kín và lý tưởng nhất. Chính vì vậy, doanh gnhiệp triển khai nhiều giải pháp và sáng kiến cụ thể trong chuỗi sản xuất khép kín. Ví dụ về năng lượng tái tạo, trong sản xuất công nghiệp, doanh nghiệp sử dụng nhiên liệu biomass để vận hành lò hơi, thay thế nhiên liệu hóa thạch. Giải pháp này giúp giảm phát thải khoảng 10.000 tấn CO2 mỗi năm. Bên cạnh đó, TH tận dụng năng lượng mặt trời để phát điện, góp phần gia tăng tỷ trọng năng lượng xanh và từng bước tự chủ nguồn năng lượng phục vụ sản xuất. Năng lượng sinh học từ thức ăn được chuyển hóa trong cơ thể bò để duy trì sự sống và sản xuất sữa. Nguồn thức ăn này chủ yếu đến từ phụ phẩm nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm. Rơm rạ, trấu từ sản xuất nông nghiệp được dùng làm thức ăn và đệm chuồng; sau đó được ủ thành phân compost, quay trở lại bón cho đồng ruộng. Các phụ phẩm như bã mía, bã bia, bã đậu từ các nhà máy đường, bia, ép dầu… đều được tận dụng làm thức ăn cho bò.
Trước những kết quả trên, ông Hoàng Thành Vĩnh, cán bộ quản lý Chương trình về chất thải và kinh tế tuần hoàn, UNDP Việt Nam khẳng định, thời gian qua đã có sự dịch chuyển mạnh mẽ về chính sách, nhận thức cũng như các thực hành tốt về kinh tế tuần hoàn trong các doanh nghiệp, địa phương ở Việt Nam. Ứng dụng kinh tế tuần hoàn đã đóng góp vào phát triển kinh tế theo hướng bền vững hơn, tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải, thân thiện môi trường, nâng cao tính cạnh tranh, thúc đẩy các ngành nghề mới, tạo ra các việc làm xanh.
Kiến tạo không gian, phân bổ nguồn lực tài chính hiệu quả
Dư địa để phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam còn rất lớn bởi còn rất nhiều tiềm năng còn đang bị bỏ ngỏ. Ông Hoàng Thành Vĩnh dẫn chứng, trong ngành nhựa, hiện nay tiêu dùng nội địa đang phát sinh lượng chất thải nhựa rất lớn nhưng chưa tận dụng hết. Trong khi đó hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu phế liệu để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Trong ngành nông nghiệp, phế phụ phẩm nông nghiệp phát sinh hàng năm lên tới 150 triệu tấn/năm, gấp 6 lần lượng phát sinh chất thải rắn. Khối lượng phế, phụ phẩm nông nghiệp lớn này không được tái sử dụng, tận dụng một cách đầy đủ sẽ là một áp lực rất lớn cho nền kinh tế. Trong khi Việt Nam hiện đang tiếp tục xây dựng các nhà máy đốt rác phát điện mới, đây là những điểm chưa hợp lý trong bài toán tổng thể về quản lý chất thải.
Từ thực tế trên, đại diện UNDP Việt Nam kiến nghị cần đưa ra các chỉ tiêu về môi trường và xã hội, chỉ tiêu về kinh tế, đóng góp cho GDP từ lĩnh vực kinh tế tuần hoàn hoặc việc làm xanh được tạo ra từ nền kinh tế tuần hoàn. Bên cạnh đó, cần tập trung khai thác yếu tố đặc thù của kinh tế tuần hoàn để có sự khác biệt nhất định. Yếu tố quan trọng nhất là đảm bảo tuần hoàn vật liệu trong nền kinh tế; đầu ra của của ngành này sẽ là đầu vào của các ngành khác.
Nhiều giải pháp, song vấn đề quan trọng nhất cần quan tâm là vấn đề tài chính để thực thi. PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, cần tích hợp đầy đủ yếu tố vốn tự nhiên vào hệ thống hoạch định chính sách và tài chính quốc gia. Đất đai, nước, rừng, không khí cần được đo lường, theo dõi và phản ánh như các biến số kinh tế thực thụ. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về rủi ro khí hậu, suy thoái sinh thái và phát thải, gắn trực tiếp với hệ thống tín dụng, bảo hiểm và đầu tư công, sẽ giúp phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn. Khi thông tin về xâm nhập mặn, sụt lún, thiếu nước hay ô nhiễm được tích hợp vào đánh giá rủi ro, dòng vốn sẽ dịch chuyển từ khai thác ngắn hạn sang phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái, qua đó giảm thiểu tổn thất dài hạn cho ngân sách và khu vực tư nhân.
Bên cạnh đó, tập trung vào triển khai thực chất kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp và công nghiệp. Trong nông nghiệp, phụ phẩm từ trồng trọt và thủy sản cần được coi là nguồn tài nguyên đầu vào cho năng lượng sinh khối, phân bón hữu cơ và vật liệu sinh học, giảm phát thải, nâng cao giá trị gia tăng cho khu vực nông thôn. Các mô hình canh tác tái sinh, sử dụng đất linh hoạt theo điều kiện sinh thái, giúp tăng khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu và ổn định sinh kế cho người dân. Trong công nghiệp, phát triển ngành công nghiệp môi trường, tái chế chất thải thành năng lượng và vật liệu xây dựng sẽ giảm áp lực chôn lấp, giảm ô nhiễm và tạo ra chuỗi giá trị mới gắn với đổi mới công nghệ.
Đồng thời, PGS.TS Nguyễn Đình Thọ kiến nghị, cần vận hành hiệu quả thị trường các-bon và các công cụ tài chính xanh, triển khai thị trường các-bon theo lộ trình đã được phê duyệt gắn chặt với xây dựng hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định đạt chuẩn quốc tế. Ngành nông nghiệp và lâm nghiệp có tiềm năng lớn trong cung ứng tín chỉ các-bon thông qua bảo vệ rừng, trồng rừng, giảm phát thải trong sản xuất lúa nước. Khi người dân và doanh nghiệp có thể chuyển các lợi ích môi trường thành dòng thu nhập ổn định, động lực tham gia chuyển đổi xanh sẽ được củng cố. Song song, các chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ lãi suất cho dự án xanh và tuần hoàn cần được triển khai minh bạch, hướng đúng đối tượng, nhằm giảm chi phí vốn và rủi ro đầu tư.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/buoc-chuyen-trong-kinh-te-tuan-hoan-176042.html











